11/10/11

Chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

 

Vào hôm nay, 09/10/2011, hai ngày trước khi lên đường qua Ấn Độ, thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước, chủ tịch nước Việt Nam đã dành cho hãng tin Ấn Độ PTI một bài phỏng vấn. Lãnh đạo Việt Nam đã hoan nghênh hợp tác Việt - Ấn trong lãnh vực dầu khí, đồng thời, ông cho biết sẽ tăng cường quan hệ chiến lược và quốc phòng với New Delhi.

Bình luận về những tranh cãi vừa bùng lên liên quan đến việc Ấn Độ thăm dò dầu khi trong hai lô của Việt Nam ở Biển Đông, gần bờ biển miền Trung Việt Nam, nhưng lại bị Trung Quốc phản đối, cho rằng đó là khu vực của họ, chủ tịch Trương Tấn Sang đã lên tiếng bảo vệ hợp tác giữa Hà Nội và New Delhi.
Ông nói : “Thực tế là tất cả các dự án hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác khác, bao gồm tập đoàn Ấn Độ ONGC trong lĩnh vực dầu khí đều nằm trên thềm lục địa, trong vùng đặc quyền kinh tế và thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển”.
Trên cơ sở đó, chủ tịch nước Việt Nam xác định : “Chúng tôi hoan nghênh các công ty nước ngoài đến làm việc với đối tác Việt Nam trong các dự án dầu khí trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và phù hợp với pháp luật Việt Nam”. Ông Sang đồng thời cho biết là Việt Nam cam kết bảo vệ lợi ích hợp pháp của các công ty nước ngoài đã đầu tư trong nước.
Cả Ấn Độ và Việt Nam đều bác bỏ các tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông với lý do là căn cứ theo luật của Liên Hiệp Quốc, các lô mà Ấn Độ khai thác thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ấn Độ cũng đã nói rõ là công ty Nhà nước của họ sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí tại Biển Đông.

 Theo RFI

Thủ tướng Đức sẽ đề cập đến vấn đề nhân quyền khi đến thăm VN



Bà Angela Merkel ngày 10/10 bắt đầu lên đường công du Việt Nam với hy vọng đạt được các thỏa thuận về thương mại và nguyên vật liệu thô với nước chủ nhà.
Tháp tùng Thủ tướng Merkel tới Việt Nam có phái đoàn các doanh nghiệp hàng đầu của Đức hầu tìm kiếm các cơ hội đầu tư và tăng cường mối quan hệ giữa nền kinh tế hàng đầu của Châu Âu với nền kinh tế phát triển nhanh tại Châu Á.
Bà Merkel nhận định Việt Nam là một quốc gia đang trỗi dậy tại Châu Á với nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây và đang dần trở thành một đối thủ cạnh tranh với các nước lớn như Trung Quốc.
Hãng thông tấn AFP ngày 10/10 trích thuật nguồn tin từ giới chức cao cấp trong chính phủ Đức cho biết trong chuyến thăm Việt Nam lần này, nhà lãnh đạo của Đức sẽ thúc đẩy tiến trình hiệp ước tự do mậu dịch giữa Liên hiệp Châu Âu với Việt Nam, thỏa thuận được Đức ủng hộ mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, Thủ tướng Đức cũng nhấn mạnh rằng bà sẽ đề cập đến tình trạng nhân quyền đang xuống dốc của Việt Nam trong chuyến công du này.
Bà Merkel khẳng định hợp tác kinh tế đương nhiên gắn liền với nhân quyền và cho biết khi tới Việt Nam, bà chắc chắn sẽ nêu các thắc mắc về nhân quyền với chính quyền Hà Nội.
Liên hiệp Châu Âu thường xuyên lên án việc Hà Nội vi phạm nhân quyền, ngăn cản quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân và đang kêu gọi Việt Nam phóng thích một công dân của EU, blogger mang song tịch Pháp-Việt Phạm Minh Hoàng. Ông bị tuyên án 3 năm tù hồi tháng 8 về tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ vì những bài viết đăng tải trên mạng internet.
Theo VOA tiếng Việt

Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định tái cơ cấu nền kinh tế

Trong 5 năm tới, Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN thống nhất cần tập trung vào 3 lĩnh vực là tái cấu trúc đầu tư, cơ cấu lại thị trường tài chính và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước.
Ngày 10/10, hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN khóa 11 đã bế mạc sau 4 ngày làm việc khẩn trương.
Phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định tình hình đất nước hiện nay và dự báo sắp tới còn nhiều khó khăn, diễn biến phức tạp. Tổng bí thư yêu cầu ngay sau hội nghị, Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội cần tiếp thu ý kiến chỉ đạo của trung ương, hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Tổng bí thư đã khái quát 5 kết quả chủ yếu, nổi bật của hội nghị, trong đó chỉ rõ với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét các vấn đề một cách khách quan, khoa học, hội nghị đã thống nhất đánh giá tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới.
Ban chấp hành trung ương đã ghi nhận một số kết quả bước đầu quan trọng, tốc độ tăng GDP 9 tháng của năm 2011 đạt 5,76%; cả năm ước đạt 5,8-6%. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quan trọng chưa hoàn thành, nhất là mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát vẫn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; thị trường tài chính, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Các đại biểu đã nhất trí về định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.
Việc thực hiện các chủ trương của đại hội 11 về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, những người thuộc diện chính sách xã hội, lao động ở các đô thị, khu công nghiệp, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Tai nạn và ùn tắc giao thông chưa giảm, còn xảy ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng; khiếu kiện đông người, đình công xảy ra ở nhiều nơi; số vụ tội phạm, tệ nạn xã hội gia tăng, gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân.

Hội nghị đã chỉ rõ nguyên nhân của tình hình trên là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; đồng thời do những yếu kém nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục. Ngoài ra còn có lý do chủ quan là những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp, các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa...
Trong kế hoạch 5 năm tới, Trung ương Đảng CSVN thống nhất cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp do Ban cán sự đảng Chính phủ trình. Nội dung mới được hội nghị xem xét và quyết định là phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Cụ thể, trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất là tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
Hội nghị đã cho ý kiến hoàn chỉnh và quyết định ban hành 3 văn bản quan trọng về thi hành Điều lệ Đảng nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
(Theo TTXVN)

9/10/11

Vì sao Trung Quốc và Nga ngăn can thiệp vào Syria


Mối lo ngại về chính trị và ngoại giao khiến Trung Quốc và Nga bỏ phiếu chống lại nghị quyết về Syria, dẫn đến chia rẽ trong Hội đồng Bảo an và giúp chế độ Assad tạm tránh được vết xe đổ như chế độ Gadhafi tại Libya.

Biểu tình phản đối chế độ Bashar al-Assad của Syria. Ảnh: Telegraph.
Dự thảo nghị quyết trên nhận được sự đề xuất và ủng hộ từ Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha và Mỹ và theo giới ngoại giao văn bản này đã được soạn thảo cẩn thận nhằm giảm mối lo ngại của Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, cuối cùng nghị quyết vẫn không thể thuyết phục được hai thành viên thường trực Hội đồng Bảo an và đây được coi là một thất bại rõ như ban ngày của ngoại giao phương Tây.Lá phiếu phủ quyết của Trung Quốc và Nga, hai thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, về nghị quyết mạnh tay đối với Syria đã khiến nỗ lực của phương Tây dàn xếp sự ủng hộ của quốc tế để can thiệp vào nước này nhằm thay chế độ Bashar al-Assad bị thất bại. Đây cũng là tín hiệu cho thấy Bắc Kinh và Matxcơva vốn không ủng hộ Liên Hợp Quốc mạnh tay với chính quyền Syria đang ngày càng cứng rắn hơn.
Phiên bỏ phiếu cũng cho thấy sự chia rẽ sâu sắc trong Hội đồng Bảo an khi có hai nước phản đối và 4 nước là Brazil, Ấn Độ, Nam Phi và Libăng bỏ phiếu trắng. Diễn biến này dẫn đến nhận định thời của việc ra nghị quyết chóng vánh kiểu như nghị quyết số 1973 của Hội đồng Bảo an cho phép can thiệp vào Libya hồi tháng 3 vừa qua đã qua.
Trường hợp Libya có thể là nguyên nhân khiến Trung Quốc và Nga quyết định bỏ phiếu chống nghị quyết về Syria, thay cho giải pháp “mũ ni che tai” là lá phiếu trắng như trong cuộc bỏ phiếu về Libya trước đây. Hai nước này vốn không ủng hộ can thiệp quân sự vào Libya nhưng không phản đối bằng hành động cụ thể, nên đã mở đường cho phương Tây can thiệp quân sự dẫn đến sự thay đổi chế độ tại Libya.
Sau sự kiện trên, cả Bắc Kinh và Matxcơva đều có dấu hiệu chỉ trích phương Tây lợi dụng nghị quyết Liên Hợp Quốc về bảo vệ thường dân để can thiệp quân sự vào cuộc nội chiến ở Libya. Do đó họ tìm cách không để nghị quyết tương tự được thông qua và đó là nguyên nhân dẫn đến hai lá phiếu phủ quyết chứ không phải phiếu trắng về Syria.
Nghị quyết về Syria được cho là không dẫn đến bất cứ hành động can thiệp quân sự nào, nhưng đại sứ Nga tại Liên Hợp Quốc Vitaly Churkin nhấn mạnh rằng mục đích của văn bản này là dẫn đến sự thay đổi chế độ do Tổng thống Bashar al-Assad đứng đầu tại Syria. Bản thân nhiều chính phủ phương Tây trước đó cũng nêu rõ mong muốn ông Assad phải ra đi.
Một lý do khác cũng có thể khiến Trung Quốc và Nga quyết định bác bỏ nghị quyết về Syria là mối lo ngại một ngày nào đó văn bản này sẽ chống lại trực tiếp đến lợi ích của họ. Hai nước vốn có quan hệ chặt chẽ với chính quyền Tổng thống Bashar al-Assad, đặc biệt là Nga vốn có nhiều lợi ích về quân sự và kinh tế tại Syria.
Nga vẫn đang tiếp tục bán vũ khí cho Syria kể cả trong bối cảnh chế độ Assad bị chỉ trích gay gắt vì hành động mạnh tay với người biểu tình. Cuối tháng trước, một chiến hạm Nga đã thăm cảng Tartus của Syria trên đường về nước sau khi được triển khai chống cướp biển tại Biển Đỏ. Điều này gợi nhắc Tartus là căn cứ hải quân duy nhất của Nga đặt bên ngoài lãnh thổ Liên Xô cũ.
Như vậy mối lo ngại về chính trị, chiến lược và ngoại giao là lý do để giải thích việc Trung Quốc và Nga bỏ phiếu chống nghị quyết về Syria. Động thái này dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc và cáo buộc lẫn nhau trong nội bộ Hội đồng Bảo an. Người đầu tiên khởi động quá trình hậu bỏ phiếu không mấy dễ chịu này là đại sứ Mỹ Susan Rice, người đã bước ra khỏi phòng họp khi đặc sứ của Syria chỉ trích Washington.
BBC dẫn lời đại diện của Mỹ tại Liên Hợp Quốc Susan Rice cho biết nước này cảm thấy bị “xúc phạm” vì nghị quyết bị bác bỏ và cho rằng những ý kiến phản đối là “một mưu mẹo rẻ tiền của những kẻ muốn bán vũ khí cho chế độ Syria hơn là đứng về phía người dân Syria”.
Sau khi thất bại trong việc thực hiện bước đi như đã từng làm với Libya thông qua Liên Hợp Quốc, Mỹ và các đồng minh châu Âu sẽ chuyển hướng sang tăng cường ảnh hưởng của các biện pháp trừng phạt sẵn có đối với chế độ Assad, trong khi nỗ lực phối hợp với các tổ chức như Liên đoàn Ảrập, Hội đồng hợp tác vùng Vịnh và Thổ Nhĩ Kỳ để đẩy mạnh đối thoại với các phe phái đối lập tại Syria chống chế độ Assad.
Trong khi đó, Tổng thống Basha al-Assad cũng có tuyên bố đặc biệt cứng rắn cảnh báo NATO nếu có ý định tấn công nước này như đã làm với Libya. Lãnh đạo Syria khẳng định sẽ bắn phá Israel và tàu chiến Mỹ nếu bị tấn công. Cụ thể nước này doạ sẽ huy động tên lửa lên cao nguyên Golan để oanh tạc thành phố Tel Aviv của nước Israel láng giềng.
Syria còn đe doạ đánh đòn hội đồng bằng cách kêu gọi nhóm chiến binh Hezbollah ở Libăng bắn phá các thành phố của người Israel và yêu cầu Iran tấn công các tàu chiến của Mỹ ở vịnh Ba Tư. Ngoài ra, các lợi ích khác của Mỹ cũng như châu Âu sẽ tiếp tục trở thành mục tiêu tấn công.
Làn sóng biểu tình chống chính phủ của Tổng thống Bashar al-Assad ở Syria nổ ra từ giữa tháng ba, cùng thời điểm với hoạt động tương tự ở Libya. Chính quyền Assad bị lên án vì đàn áp người biểu tình và khiến ít nhất 2.700 người thiệt mạng. Lãnh đạo nhiều nước phương Tây, trong đó có Mỹ, công khai kêu gọi ông Assad từ chức, động thái họ cũng từng làm với đại tá Gadhafi tại Libya.
Tuy nhiên, khác với Libya khi nghị quyết của Liên Hợp Quốc nhanh chóng được thông qua do Nga và Trung Quốc bỏ phiếu trắng thì nghị quyết về Syria đã bị phủ quyết do hai nước này có quan điểm phải đối quyết liệt. Điều này khiến phương Tây không thể dễ dàng can thiệp quân sự vào Syria như đã làm với Libya và giúp chế độ Assad có thêm có hội trụ vững trước làn sóng biểu tình đang lan rộng.
Đình Nguyễn

7/10/11

Tranh luận để họp QH không còn tính 'trình diễn'


 Đại biểu dự hội thảo quốc tế ở Hà Nội hôm nay chỉ ra Quốc hội phải dân chủ hóa hơn bằng các cuộc tranh luận. Hiện các phiên họp toàn thể còn mang tính "trình diễn", càng đông người được nói càng tốt, ít khi có trao đi đổi lại làm sáng tỏ vấn đề.

Kết thúc phần "nói vo" ngắn gọn giới thiệu cách tiến hành các phiên họp toàn thể tại Quốc hội Đức, bà Marion Capsers, chuyên gia về nghị viện vui vẻ chia sẻ:"Tôi không trình bày một bài viết sẵn vì nguyên tắc làm việc của các nghị sĩ Đức chúng tôi là chỉ được nói chứ không được cầm giấy đọc như đọc chính tả".
Tham gia hội thảo quốc tế về "quy trình, thủ tục làm việc tại phiên họp toàn thể của Quốc hội" sáng nay (6/10), bà Marion Capspers, người từng có "thâm niên" 20 năm ngồi ghế nghị sĩ đã nhận được nhiều câu hỏi về những đổi mới trong hoạt động của Quốc hội Đức và bài học nào cho Việt Nam.
Các chuyên gia của Việt Nam cùng ĐBQH đã có buổi thảo luận mổ xẻ những bất cập trong tiến hành các phiên họp toàn thể hiện nay cũng như đề xuất hướng đổi mới.
'Tư biện là chính'
Theo Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Sĩ Dũng, ít có nghị viện nước nào dành nhiều thời gian cho các phiên họp toàn thể như ở Việt Nam. Điều này chiếm biết bao thời gian, tâm lực, sức khỏe của đại biểu.

Ông Trần Ngọc Đường: QH phải dân chủ hóa hơn bằng các cuộc tranh luận. Ảnh: Lê Nhung


Ông Dũng chỉ ra, thông lệ hiện nay, tại mỗi phiên họp toàn thể thường dành phần lớn thời gian đọc tờ trình, báo cáo (dù đã phát tận tay đại biểu), sau đó mới thảo luận. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận nếu có diễn ra cũng ít dựa trên các chứng cứ mà đại biểu chủ yếu nói trên vị trí công tác và tư biện là chính. Ngoài ra, cách làm việc theo kiểu đăng ký danh sách, ai đăng ký trước được chỉ định trước và cứ lần lượt như vậy đã dẫn đến việc chưa tạo ra cơ chế đảm bảo sự phản biện của các ý kiến trái chiều.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Đình Quyền chia sẻ, nhiều lúc ông muốn tranh luận với một đại biểu nào đó và cũng đăng ký bấm nút nhưng vẫn không được gọi vì không đủ thời gian. Danh sách thảo luận vẫn được sắp xếp theo trình tự bấm nút.
Nhiều ý kiến khác cũng chỉ ra, các phiên họp toàn thể hiện nay vẫn còn mang tính "trình diễn", sao cho càng đông người được nói càng tốt. Chính vì vậy, nhiều kỳ họp vừa qua dù vẫn kêu gọi phải đổi mới theo hướng chuyển từ việc đọc tham luận sang tranh luận mà vẫn không làm được. Ít khi có việc "trao đi đổi lại" để làm sáng tỏ vấn đề. Điều này cũng dẫn đến một rủi ro, như phân tích của ông Dũng, đó là sẽ có những trường hợp người được mời phát biểu chỉ toàn nêu ý kiến một chiều.
Chuyên gia cao cấp của Quốc hội Trần Ngọc Đường cho rằng, Quốc hội phải dân chủ hóa hơn nữa bằng các cuộc tranh luận. Và bản thân mỗi ĐBQH cũng cần tiếp tục nâng cao kỹ năng, bản lĩnh nghị trường. "Đó là các kỹ năng tranh luận, là bản lĩnh chính trị, trách nhiệm chính trị của ĐBQH", ông Đường nói.
Công khai bấm nút
Rất nhiều đề xuất đổi mới đã được nêu tại hội thảo.
Chẳng hạn, theo ông Dũng, không nên tổ chức nhiều phiên họp toàn thể mà nên dành thời gian cho các hoạt động của ủy ban hoặc hoạt động tự do của ĐBQH.
  Ông Nguyễn Văn Thuận: Đây là thời cơ tốt nhất để tìm giải pháp đổi mới, nâng hiệu quả hoạt động QH. Ảnh: Lê Nhung

Ngoài ra, cần xây dựng trình tự, thủ tục tiến hành các phiên họp toàn thể theo đúng yêu cầu của luật nghị viện như: tranh luận, biểu quyết, quy định và chế tài kỷ luật với các đại biểu vi phạm. Theo ông Dũng, cần xem lại một số quy định chưa khả thi hiện nay như thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm, đề xuất thành lập Ủy ban điều tra. Chừng nào Quốc hội còn chưa ban hành quy định về thủ tục xử lý kiến nghị của đại biểu thì hai vấn đề trên sẽ khó áp dụng.
Ông Trần Ngọc Đường phân tích cụ thể hơn, có thể tính toán cụ thể về nguyên tắc rút ngắn thời gian đọc báo cáo, nguyên tắc về cách phát biểu của từng người (không xúc phạm người khác, bình đẳng trong tranh luận)...
Ngoài ra, cũng nên hoàn thiện quy định về chủ tọa phiên họp bởi đây là người đóng vai trò chính trong việc tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở. Nhưng, nhiều khi "người điểu khiển cuộc chơi" chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân khiến cử tọa có khi chưa hài lòng. Thậm chí, nhiều kết luận của người điều hành là ý kiến cá nhân chứ không mang tính đại diện.
Ông Đường cũng nhắc lại một đề xuất từng nhiều lần được ĐB Dương Trung Quốc nêu ra, đó là phải công khai hóa việc bấm nút của đại biểu.
"Điều này chẳng những nâng cao trách nhiệm, bản lĩnh của đại biểu mà còn là thông tin để cử tri giám sát... Lịch sử sẽ phán xét những xu hướng biểu quyết khác nhau trong việc quyết định các dự án trọng đại quốc gia tại các phiên họp toàn thể Quốc hội", ông Đường nói.
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Nguyễn Văn Thuận cũng cho rằng, quan trọng nhất, để có một quy trình hoạt động hiệu quả tại các phiên họp Quốc hội thì việc phân định trách nhiệm của đại biểu phải rõ ràng. Đại biểu phải ý thức được vai trò đại diện của mình với cử tri.
Ông Thuận cũng tha thiết cho rằng, đây là thời cơ tốt nhất để nhìn nhận lại tổng quan các tồn tại và tìm giải pháp đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động Quốc hội.

Lê Nhung

Luận đàm với Ngoại trưởng Phạm Bình Minh


"Ở bức tranh lớn hơn, tôi tin tưởng rằng, quan hệ đối tác Việt - Mỹ sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung để thúc đẩy hoà bình, ổn định và phát triển khu vực cũng như trên thế giới. Hai nước chúng ta có những cơ hội lớn để thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương và đa phương"- Bộ trưởng Phạm Bình Minh.


Bộ trưởng  Phạm Bình  Minh. Ảnh: Phạm Hải
Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu nội dung cuộc nói chuyện của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh tại Hội đồng Đối ngoại Mỹ (CFR), một think-tank hàng đầu về chính sách đối ngoại của Mỹ ngày 27/9.
BOB WOODRUFF: Xin chào tất cả mọi người. Tôi là Bob Woodruff.
Như mọi người đã biết, người sẽ nói chuyện hôm nay là Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Và ông sẽ có cơ hội đưa ra bài phát biểu tại đây, có lẽ khoảng 10 phút hoặc lâu hơn, sau đó mọi người sẽ đưa ra câu hỏi.
Tôi chỉ có chút lưu ý trước khi chúng ta bắt đầu, các bạn có thể tắt điện thoại, dĩ nhiên nếu cần có thể sử dụng chế độ rung và hãy nhớ, tất cả được lưu lại. Bạn có thể thấy các máy quay ở đây, nên hãy thận trọng những gì bạn nói.
Và tôi xin giới thiệu Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.
Bộ trưởng Phạm Bình Minh: 

Tiến sĩ Richard Haass, các quý ông, quý bà, tôi xin cám ơn Hội đồng Đối ngoại vì đã mời tôi trong buổi thảo luận này. Và cám ơn tất cả các bạn đã tham dự.
Chúng tôi xem Hội đồng Đối ngoại là một đối tác quan trọng và đánh giá cao sự quan tâm của các bạn trong sự phát triển quan hệ Việt - Mỹ. Chúng tôi nhớ lại chuyến thăm của hội đồng năm 1993 khi hai nước chúng ta vẫn chuẩn bị cho việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Chúng ta bình thường hoá năm 1995.
Và năm ngoái, chúng tôi vui mừng tiếp đón Tiến sĩ Richard Haass và đoàn đại biểu hội đồng thăm Việt Nam. Tôi tin rằng, chuyến thăm này đã giúp các thành viên của hội đồng hiểu rõ hơn về đất nước và nhân dân chúng tôi trong các lĩnh vực cải cách.
Và hôm nay tôi rất vinh dự có cơ hội này để chia sẻ với các bạn những suy nghĩ của chúng tôi về chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chúng tôi đã theo đuổi một chính sách đối ngoại nhất quán của độc lập, tự chủ, hợp tác, phát triển, đa phương hoá và đa dạng hoá các mối quan hệ, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế. Và chúng tôi có một khẩu hiệu mà chúng tôi đã quyết tâm là đáng tin cậy, là người bạn, là đối tác đáng tin cậy và một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Định hướng tích cực và chủ động hội nhập quốc tế là yếu tố mới trong chính sách đối ngoại của chúng tôi được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ 11 đầu năm nay. Đây là bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của chúng tôi vì trước đây chúng tôi chủ yếu tập trung vào hội nhập kinh tế, nhưng giờ đây chúng tôi mong muốn hội nhập trong tất cả các lĩnh vực, không chỉ có kinh tế mà còn là trao đổi chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, văn hoá, xã hội.
Sự thành công của Việt Nam với tư cách thành viên không thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ trong nhiệm kỳ 2008 và 2009, chủ tịch ASEAN năm 2010, hợp tác với các quốc gia và LHQ trong nhiều lĩnh vực như an ninh, an toàn hạt nhân; biến đổi khí hậu; thực hiện Các Mục tiêu Thiên niên kỷ... ; tích cực chuẩn bị tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình và tích cực tham gia các cuộc đàm phán Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương là một số ví dụ trong chính sách đối ngoại của chúng tôi.
Chúng tôi hướng tới mục tiêu thúc đẩy hơn nữa các quan hệ đối ngoại, nâng tầm quan hệ với các đối tác hàng đầu, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với những cường quốc lớn và các trung tâm kinh tế toàn cầu là những ưu tiên của chúng tôi. Chúng tôi đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh và Tây Ban Nha. Tôi hy vọng trong tương lai gần, Việt Nam sẽ có quan hệ đối tác chiến lược với những cường quốc khác, trong đó có Mỹ. Đồng thời, chúng tôi nỗ lực làm việc để tăng cường quan hệ của mình với những bạn bè và đối tác truyền thống cũng như tham gia các tổ chức quốc tế, đặc biệt là LHQ.
Về lĩnh vực kinh tế, hiện tại, chính phủ Việt Nam xác định, nhiệm vụ hàng đầu là ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện để nền kinh tế tiếp tục phát triển nhanh và bền vững. Cùng với nhiều nỗ lực toàn diện khác, nỗ lực giảm thiểu và hợp lý chi tiêu công đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết các thách thức do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế/tài chính toàn cầu và thiết lập nền tảng cần thiết để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của chúng tôi trong giai đoạn 2011-2020 - những gì chúng tôi gọi là chiến lược kinh tế xã hội với mục tiêu năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để đạt được mục tiêu trên, trong nhiệm kỳ này, chính phủ của chúng tôi đang tập trung vào ba nhiệm vụ chính: thứ nhất, đơn giản hoá các thể chế kinh tế thị trường nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng và cải cách hành chính; thứ hai, phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp. Cùng lúc đó, chúng tôi coi hợp tác kinh tế quốc tế là nhân tố quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, và đây sẽ là ưu tiên cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong những năm tới.
Chúng tôi đang làm việc với các nước ASEAN để bước vào kỷ nguyên hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN, phấn đấu để xây dựng một cộng đồng ASEAN vào năm 2015 trên cơ sở ba trụ cột chính - chính trị, an ninh, kinh tế và xã hội - và thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN trong một cấu trúc khu vực. Chúng tôi hy vọng thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác giữa ASEAN và các cường quốc lớn thông qua tăng cường đối thoại, hợp tác, xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa với quan điểm phát triển một cơ chế và cơ cấu bền vững để đảm bảo hoà bình, ổn định và phát triển bền vững trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Chúng tôi hoan nghênh chính sách tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực của tất cả quốc gia, bao gồm nước Mỹ.
Với hoà bình và an ninh, đây luôn luôn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Chúng tôi hướng tới LHQ để tiếp tục các nỗ lực phối hợp và chặt chẽ nhằm thúc đẩy giải pháp hoà bình cho các cuộc nội chiến và xung đột địa phương ở một số khu vực trên thế giới, đặc biệt tại Bắc Phi và Trung Đông, trong khi ngăn chặn các xung đột khác có thể bùng nổ.
Liên quan tới vấn đề nóng hiện nay tại Đại hội Đồng - đó là đơn xin trở thành thành viên đầy đủ của LHQ của Palestine - chúng tôi có thể nói rằng, chúng tôi công nhận nhà nước Palestine năm 1988 và đã luôn ủng hộ cuộc đấu tranh của người Palestine cho các quyền không thể xâm phạm của họ, bao gồm quyền thành lập một nhà nước độc lập và có chủ quyền, cùng tồn tại hoà bình với Israel, với các đường biên giới thiết lập trước tháng 6/1967. Đó là lý do tại sao, chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ ủng hộ hồ sơ của Palestine xin trở thành thành viên đầy đủ của LHQ, nhưng (dường như) hiện tại, cuộc thảo luận vẫn đang ở vòng Hội đồng bảo an mà chưa được đưa lên bàn của Đại hội Đồng.
Một điều cần thiết lâu dài là chúng ta cần gieo trồng văn hoá hoà bình, đối thoại và thúc đẩy giải pháp hoà bình cho tranh chấp. Việt Nam ủng hộ các nỗ lực nhằm chấm dứt bạo lực và tăng cường tái thiết, hoà giải quốc gia tại Afghanistan, tại Iraq.
Việt Nam nhất quán chính sách ủng hộ vã thúc đẩy giải trừ quân bị nói chung và toàn diện, với ưu tiên hàng đầu cho ba trụ cột của vấn đề hạt nhân - cụ thể là, giải trừ hạt nhân, không phổ biến hạt nhân và sử dụng hoà bình năng lượng cũng như công nghệ hạt nhân. Chúng tôi tham gia tất cả các văn kiện quốc tế lớn cho việc giải trừ vũ khí huỷ diệt hàng loạt, bao gồm CTBT, NPT, BWC và CWC. Chúng tôi cũng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo các cơ chế liên quan của LHQ đặc biệt là cơ chế do Hội đồng Bảo an LHQ thiết lập.
Chúng tôi ủng hộ mạnh mẽ LHQ trong việc biến kết quả của Hội thảo đánh giá Hiệp ước Không phổ biến Hạt nhân 2010 và Hội nghị cấp cao về An ninh và An toàn hạt nhân trở thành các kết quả cụ thể, làm sống công tác của hội nghị giải trừ quân bị và xúc tiến tham gia các cuộc đàm phán giải trừ quân bị đa phương. Và trong khu vực của chúng tôi, trong Đông Nam Á của chúng tôi, chúng tôi cùng với các nước ASEAN đang làm việc để thúc đẩy hiệp ước về Đông Nam Á - khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, và chúng tôi mong rằng, tất cả các nước, đặc biệt là các nước có vũ khí hạt nhân, sẽ ký kết và phê chuẩn nghị định thư kèm theo hiệp ước.


Trong khi thực hiện chính sách đối ngoại, chúng tôi coi Mỹ là một đối tác có ý nghĩa chiến lược hàng đầu. Khi Tổng thống Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt quyết định bình thường hoá quan hệ của chúng ta 16 năm trước, rất khó có thể hình dung được rằng sẽ có ngày chúng ta đạt được sự phát triển như thế này. Cơ chế đối thoại và tham vấn hiện nay đã tạo ra một khuôn khổ mạnh mẽ cho sự phát triển liên tục trong quan hệ song phương ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ quan hệ chính trị - ngoại giao tới kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, giáo dục, khoa học và công nghệ, hỗ trợ nhân đạo...


Hợp tác kinh tế hiện nay là điểm nhấn trong quan hệ song phương của chúng ta, với hơn 18 tỷ USD trong kim ngạch thương mại. Tôi nhớ rằng năm 1995, kim ngạch thương mại mới chỉ là vài trăm USD và giờ đây nó gấp 180 lần so với con số năm ấy. Ngày càng nhiều công ty Mỹ kể cả các tập đoàn ùang đầu, đang đầu tư và không ngừng mở rộng thị trường của họ ở Việt Nam. Tiềm năng to lớn cho hợp tác kinh tế của chúng ta tồn tại kể từ khi hai bên và các đối tác khác cùng thoả luận về Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương - met trong những thoả thuận thương mại lớn nhất và tự do nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.


Các lĩnh vực hợp tác khác cũng đạt được thành tựu rất ấn tượng, đặc biệt là trong trao đổi giữa nhân dân hai nước. Việc Mỹ gần đây trở thành điểm chọn lựa của hơn 13.000 sinh viên là lý do vì sao Việt Nam đang trở thành một trong những điểm chọn lựa của du khách Mỹ.


Hai bên cũng đã hợp tác tốt trong việc tìm kiếm người mát tích, trong các hoạt động nhân đạo như HIV/AIDS, rà phá bom mìn, giải quyết vấn đề chất độc da cam.

Ngoài ra, hợp tác an ninh quốc phòng đã có tiến triển tích cực. Tại cuộc đối thoại về chính sách quốc phòng lần thứ hai gần đây diễn ra ở Washington, D.C., hai bên lần đầu tiên đã ký kết các bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, đây là ví dụ cho sự hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ.


Xây dựng động lực tích cực trong các quan hệ, Việt Nam và Mỹ đang tiến hành các cuộc thảo luận về việc nâng tầm quan hệ hướng tới quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 7/2010, trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm bình thường hoá quan hệ, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã chuyển tải thông điệp của Tổng thống Obama để nâng tầm mối quan hệ chúng ta lên một tầm cao hơn, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược. Tôi tin rằng, đây là lúc hơn bao giờ hết để chúng ta đưa mối quan hệ hai nước sang một giai đoạn hợp tác tiếp theo.


Hôm qua tôi đã có cuộc họp rất hiệu quả với Ngoại trưởng Clinton về vấn đề này. Bà tin tưởng mạnh mẽ rằng, mối quan hệ của chúng ta được tăng cường hơn nữa sẽ giúp chúng ta thực hiện sự hợp tác tích cực, xây dựng và nhiều mặt - một mối quan hệ tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi, vì hoà bình, ổn định và phát triển như trong tuyên bố chung của lãnh đạo hai nước. Chúng tôi cũng cho rằng, quan hệ đối tác Mỹ - Việt tốt hơn không chỉ có nghĩa chỉ thúc đẩy lợi ích chung mà còn có lợi cho lợi ích của mỗi bên trên tinh thân hiểu biết và tôn trọng độc lập và chủ quyền.


Ở bức tranh lớn hơn, tôi tin tưởng rằng, quan hệ đối tác Việt - Mỹ sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung để thúc đẩy hoà bình, ổn định và phát triển khu vực cũng như trên thế giới. Hai nước chúng ta có những cơ hội lớn để thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương và đa phương. Tôi hy vọng rằng, Hội đồng Đối ngoại và các bên liên quan khác trong quan hệ Việt - Mỹ sẽ tích cực tham gia vào tiến trình này vì các lợi ích lâu dài của hai quốc gia và nhân dân hai nước. Tôi xin kết thúc phát biểu của mình tại đây và rất cám ơn sự chú ý của mọi người.


WOODRUFF: Rất cám ơn ông. Rất hay. Tôi biết rằng tôi sẽ chỉ đưa ra một số câu hỏi trong khoảng 15 phút sau đó là để ngỏ cho các câu hỏi khác dành cho ông. Mặc dù vậy, lần đầu tiên, tôi cũng muốn nói - với ý kiến cá nhân - tôi nghĩ tôi với ông cùng độ tuổi. Ông 52 tuổi còn tôi 50. Trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, tôi và ông đều còn rất trẻ, dĩ nhiên, tôi ở Detroit, và ông ở Hà Nội.


Vậy, ông nhìn nhận thế nào và ông đã nghĩ gì về Mỹ hồi ấy? Chúng tôi biết rằng đã có thay đổi lớn từ đó tới nay. Nhưng tôi chỉ muốn hỏi, ông đã từng nhìn nhận thế nào và ông đã nghĩ gì?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Vâng, như ông từng đề cập, đó là thời gian xảy ra chiến tranh, và chúng ta còn rất trẻ. Tôi có thể nói tôi rất nhỏ khi ấy. Tôi nhớ khi Hà Nội bị đánh bom vì tôi tôi sống ở Hà Nội. Và lúc bị đánh bom, tôi đã phải sơ tán về vùng nông thôn. Và từ nông thôn, hàng đêm, tôi nhìn lên bầu trời, thấy như máy bay thả bom. Dĩ nhiên, đó là sự thù hận. Và sau đó, năm 1975, khi đủ tuổi, tôi vào trường ngoại giao. Và tôi đã học ngoại giao để trở thành một nhà ngoại giao, với ước mơ mà chúng ta có thể, các bạn biết đấy, là bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Nên trong lĩnh vực này, giờ đây, trong năm 1995 thì ước mơ đã thành hiện thực. Và các bạn biết đấy, những ngày nay, chúng ta đang nỗ lực nâng tầm quan hệ ấy.


WOODRUFF: Ông biết rằng, tôi biết ông đã có sự ủng hộ rất lớn để cố gắng làm gia tăng quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Có khi nào ông thậm chí hình dung ra rằng, ông sẽ ở đây, tại nước Mỹ thời gian trước không?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Thời điểm nào?


WOODRUFF: Vâng, trở lại những năm 1970?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Không (cười). Thời gian đó là không vì trước năm 1975 - không thể biết chiến tranh khi nào sẽ chấm dứt. Nên nó giải thích vì sao tôi không thể hình dung sẽ ở Mỹ.


WOODRUFF: Vậy lần đầu tiên, lần đầu tiên là khi nào ông nghĩ về điều này?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Đó là khi - vào những năm 1980, khi tôi làm việc tại bộ ngoại giao. Và thời điểm đó, tôi làm ở chúng tôi gọi là Vụ Tổ chức Quốc tế. Và công việc của tôi khi đó liên quan trực tiếp tới công việc của LHQ. Nên tôi đã tới New York tham dự các phiên họp của LHQ.


WOODRUFF: Tôi biết, một lần nữa với tư cách cá nhân, là những gì mà cha ông, ý tôi là, quan điểm của cha ông, suy nghĩ của ông ấy về loại hình công việc ông đã làm?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Vâng, ông biết rằng, chúng tôi có một chính sách khi chúng tôi bình thường hoá quan hệ với Mỹ, chúng tôi có khẩu hiệu rằng, khép lại quá khứ và hướng tới tương lai. Vì vậy, với mọi nỗ lực để bình thường hoá giữa hai nước, đó là hoàn hảo.


WOODRUFF: Và đó là lý do tại sao, cuối cùng, đó là câu hỏi cuối cùng của tôi về quá khứ. Hãy hướng tới - hiện tại và tương lai. Các bạn biết đấy, chắc chắn khi nhìn vào - sự thay đổi về kinh tế ở đất nước này là rất to lớn. Và trong tất cả các nước Đông Nam Á, tôi chưa từng tới Việt Nam. Đó là nước duy nhất tôi chưa từng đến.


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: (không nghe rõ)


WOODRUFF: Vì vậy đó là lý do chính vì sao tôi muốn gặp ông, để tối có thể đến thăm ông. Tôi đã sống ở Trung Quốc, tại Bắc Kinh năm 1988 và 1989. Sau đó, chúng tôi đã chứng kiến một đất nước mới bắt đầu có những đổi thay đáng kể. Nhưng nếu nhìn vào số người mới thoát nghèo, thoát nghèo ở Trung Quốc, tôi nghĩ có khoảng 300 triệu người thoát nghèo trong 30 năm qua. Tôi nghĩ, với nước ông, đã có khoảng 75% dân số được xem là trong mức nghèo, rồi hiện nay giảm xuống còn 14%, từ năm 1990 tới nay. Ông nhìn nhận nền kinh tế thế nào và lý do cho sự phục hồi theo thời gian?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Với Việt Nam trong 10 năm qua, chúng tôi duy trì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế khoảng 7% - 7-8%, và điều đó đã góp phần giảm nghèo rất lớn, đồng thời chính phủ có một chính sách ưu tiên cho người nghèo. Đó là lý do vì sao, với Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đây là một trong các mục tiêu chúng tôi đã hoàn thành trước - trước thời hạn - đặt ra cho năm 2015.


WOODRUFF: Và ông có con số tăng trưởng hàng năm trong nền kinh tế. Tôi nghĩ lạm phát bây giờ vào khoảng 18%?.


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: 18% lạm phát, vâng, trong năm nay. Và đó là một trong những thách thức lớn nhất với kinh tế Việt Nam.


WOODRUFF: Nên ông sẽ làm gì?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Chính phủ giờ đây có thông qua một số giải pháp. Một trong số đó là kiểm soát chi tiêu công, giảm các dự án. Việc đầu tư vào một số dự án không hiệu quả nên chúng tôi giảm các dự án đó. Đồng thời, giảm tỉ lệ lãi suất. Nhưng lạm phát vẫn cao. Trong tháng này, dường như đã tốt hơn một chút, nhưng vẫn ở mức rất cao.


WOODRUFF: Giờ chuyển sang căng thẳng khu vực, dĩ nhiên là, chắc chắn là với Trung Quốc, nước giờ đây mạnh nhất toàn châu Á. Ông có e ngại về điều này không? Ý tôi là trước khi Trung Quốc coi Biển Đông như một đường lưỡi bò lớn để họ có quyền với khu vực biên giới dọc theo biển của Việt Nam. Việc này tiếp tục thế nào mà không có xung đột, nếu không gọi là một cuộc chiến, ông nghĩ điều gì sẽ xảy ra khi nỗ lực kiểm soát những gì Trung Quốc đang cố gắng áp đặt lên các ông?


Bộ trưởng Phạm Bình Minh: Ông biết rằng, với Trung Quốc ở thời điểm hiện tại, chúng tôi có - những gì chúng tôi mô tả về mối quan hệ là sự hợp tác toàn diện. Và Trung Quốc là một trong những đối tác chiến lược của chúng tôi. Trung Quốc nằm trong số bảy nước chúng tôi có quan hệ đối tác chiến lược. Và quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc là tốt đẹp trong mọi lĩnh vực.


Về khía cạnh kinh tế. Chúng tôi có trao đổi thương mại, khoảng 20 tỉ USD. Về chính trị, chúng tôi đã trao đổi các chuyến thăm cấp cao. Văn hoá, giáo dục và các khía cạnh khác là tốt.


Chỉ có một vấn đề tồn tại. Những gì mà ông đề cập - đó là đường lưỡi bò. Đường lưỡi bò không có căn cứ pháp lý. Không hề có nền tảng pháp lý cho đường lưỡi bò. Cả Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên tham gia công ước LHQ về luật biển, năm 1982. Công ước này công nhận vùng đặc quyền kinh tế của một nước gắn với vùng biển. Và Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển trong 200 hải lý. Và đường lưỡi bò chạm tới thềm lục địa không chỉ của Việt Nam, mà còn của Philippines và những nước khác ở Đông Nam Á. Đó là lý do vì sao nó không phù hợp với Công ước LHQ về Luật biển - công ước mà Trung Quốc và Việt Nam đều là thành viên tham gia.


Còn tiếp...


Nguyễn Huy (dịch từ website của CFR)

Nguyên Ngọc







Sau khi đưa bài Để nhận ra cái biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử trên SGTT, mình nhận được email của bác Nguyên Ngọc gửi cho bản gốc, với lời nhắn: “Đây là bài nguyên văn, Sài gòn tiếp thị đã cắt hơn nửa bài. Tùy Lập sử dụng.” Rất mừng, xin chân thành cảm ơn bác Nguyên Ngọc đã gửi cho bản gốc, đọc rất sướng.


Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”


Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…


Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?


Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.


Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!


Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.


Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.


Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.


Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.


Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.


N. N


Tác giả gửi cho Quêchoa