15/10/11

Việt Nam - Trung Quốc ra tuyên bố chung


Ngày 15/10, tại thủ đô Bắc Kinh, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về chuyến thăm chính thức CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.
Sau đây là toàn văn Tuyên bố chung:
1. Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2011.
Trong thời gian chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Ðào; lần lượt hội kiến với Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Ðại hội Ðại biểu Nhân dân Toàn quốc Ngô Bang Quốc; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Quốc vụ viện Ôn Gia Bảo; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc Giả Khánh Lâm. Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện Lý Khắc Cường cũng đã tham gia các hoạt động liên quan. Trong bầu không khí chân thành, hữu nghị, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến về việc tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong tình hình mới, cũng như về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đạt được nhận thức chung rộng rãi. Ngoài Bắc Kinh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm tỉnh Quảng Đông.
Hai bên nhất trí cho rằng, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thành công tốt đẹp, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển ổn định, lành mạnh và đi vào chiều sâu, đồng thời có ảnh hưởng tích cực thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
2. Hai bên vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử mà nhân dân hai nước, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng Cộng sản, đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, trong đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự mở đầu thuận lợi trong thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 12 của Trung Quốc; tin tưởng vững chắc Đảng Cộng sản Trung Quốc nhất định sẽ đoàn kết chặt chẽ và dẫn dắt nhân dân Trung Quốc thực hiện thắng lợi mục tiêu vĩ đại xây dựng toàn diện xã hội khá giả và đẩy nhanh hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Phía Trung Quốc chúc mừng thành công của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và tin tưởng vững chắc rằng, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội XI đã đề ra, xây dựng Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết những thành tựu to lớn đã giành được trong quá trình phát triển quan hệ hai nước 61 năm qua kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt là 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, và nhất trí cho rằng, quan hệ hai nước đã phát triển nhanh và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên nhấn mạnh tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác với nhau là kinh nghiệm quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt - Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.
Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục, sẽ tăng cường giao lưu hữu nghị giữa hai nước, mở rộng hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt - Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài.
Hai bên nhất trí cho rằng, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến sâu sắc, phức tạp, việc hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự tin cậy chiến lược, hợp tác chặt chẽ toàn diện, xử lý thỏa đáng các vấn đề còn tồn tại hay mới nảy sinh giữa hai nước, là phù hợp với lợi ích căn bản và lâu dài của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho sự nghiệp chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
4. Hai bên nhất trí áp dụng các biện pháp hữu hiệu, thiết thực để mở rộng toàn diện và đi sâu hợp tác hữu nghị trên các lĩnh vực giữa hai nước:
Một là, duy trì truyền thống tốt đẹp các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao thông qua các hình thức linh hoạt, đa dạng như thăm song phương, trao đổi qua đường dây nóng, gặp gỡ tại các diễn đàn đa phương, cử đặc phái viên…, kịp thời trao đổi ý kiến về tình hình quốc tế, khu vực và các vấn đề quan trọng trong quan hệ song phương, tăng cường trao đổi chiến lược, nắm chắc phương hướng thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển lâu dài, lành mạnh, ổn định. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên chính thức khai thông đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.
Hai là, phát huy đầy đủ vai trò quan trọng của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc trong việc đi sâu hợp tác thực chất, thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hơn nữa sự chỉ đạo và quy hoạch chính sách đối với hợp tác trong các lĩnh vực, thúc đẩy tổng thể sự hợp tác, phối hợp xử lý vấn đề phát sinh, thúc đẩy hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực đạt thành quả phong phú hơn nữa, không ngừng làm phong phú nội hàm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện hai nước.
Ba là, thắt chặt giao lưu hợp tác giữa hai Đảng, thực hiện có hiệu quả “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2011-2015”. Tổ chức tốt Hội thảo lý luận giữa hai Đảng, tăng cường trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý đất nước; mở rộng và đi sâu hợp tác đào tạo cán bộ Đảng, chính quyền; tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp Trưởng Ban theo cơ chế giao lưu, hợp tác giữa hai Ban Đối ngoại và hai Ban Tuyên truyền hai Đảng vào thời điểm thích hợp.
Bốn là, đi sâu hợp tác giữa hai quân đội, tăng cường tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao quân đội hai nước; tiếp tục tổ chức tốt Đối thoại Chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng; thúc đẩy thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ; triển khai thí điểm tuần tra chung biên giới đất liền vào thời điểm thích hợp; tiếp tục tổ chức tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ; tăng cường hợp tác trong các mặt như tàu hải quân hai nước thăm nhau.
Năm là, đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; tổ chức tốt Hội nghị cấp Bộ trưởng Hợp tác phòng chống tội phạm lần thứ 3 giữa hai Bộ Công an hai nước; thúc đẩy triển khai các hoạt động chung chống xuất nhập cảnh trái phép ở khu vực biên giới; tăng cường phối hợp có hiệu quả trong các lĩnh vực phòng chống tội phạm kiểu mới như tấn công tội phạm lừa đảo viễn thông. Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp; cùng phòng ngừa và tấn công các hoạt động vi phạm pháp luật, tội phạm xuyên biên giới; tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình.
Sáu là, tăng cường và mở rộng hợp tác thiết thực giữa hai nước theo các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả thực tế, bổ sung thế mạnh lẫn nhau, bằng nhiều hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển:
- Phát huy đầy đủ vai trò của Ủy ban hợp tác kinh tế - thương mại, Ủy ban liên hợp hợp tác khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ hai nước trong việc chỉ đạo, điều phối tổng thể, đôn đốc thực hiện hợp tác thiết thực giữa hai nước trong các lĩnh vực liên quan. Thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế - thương mại Việt Nam - Trung Quốc” vừa được ký kết trong chuyến thăm này.
- Tích cực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, nông lâm nghiệp, giao thông, điện lực, công nghệ thông tin, khoáng sản, năng lượng, du lịch..., tăng cường trao đổi về thúc đẩy cân bằng thương mại song phương, khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của hai nước mở rộng hợp tác lâu dài cùng có lợi, xây dựng khu hợp tác kinh tế biên giới và hợp tác “hai hành lang, một vành đai”...
- Tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa, y tế, thể thao, báo chí… Tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường, quản lý nguồn nước và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011 - 2015”, mở rộng số lượng lưu học sinh cử sang nhau.
- Tiếp tục tổ chức tốt các hoạt động giao lưu nhân dân, như Diễn đàn Nhân dân Việt - Trung, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt - Trung, đẩy mạnh tuyên truyền tình hữu nghị Việt - Trung, tăng cường định hướng dư luận và quản lý báo chí, thúc đẩy tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, giữ gìn đại cục quan hệ hữu nghị hai nước, làm cho tình hữu nghị Việt - Trung được kế thừa và phát huy rạng rỡ.
- Mở rộng hơn nữa sự giao lưu, hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh giáp biển, giáp biên giới của hai nước như Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu của Việt Nam với Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam của Trung Quốc.
- Tiếp tục thực hiện tốt các văn kiện có liên quan đến biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, “Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ” và “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ”; tích cực tìm tòi mô hình mới trong kiểm tra liên hợp khu vực đánh cá chung ở Vịnh Bắc Bộ; thúc đẩy thiết lập đường dây nóng liên lạc giữa cơ quan ngư nghiệp hai nước.
- Đẩy nhanh tiến trình đàm phán, sớm ký kết “Hiệp định tàu thuyền qua lại tự do khu vực cửa sông Bắc Luân” và “Hiệp định hợp tác khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc”, cùng nhau duy trì ổn định và phát triển ở khu vực biên giới.
Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký “Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc (2011-2015)”, “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế - thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2012 - 2016”, “Thỏa thuận trao đổi giáo dục 2011 - 2015 giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về sửa đổi Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc”, “Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc về thực hiện Hiệp định vận tải ôtô giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc”, “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”.
5. Hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; nhấn mạnh ý chí và quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định tại Biển Đông; cho rằng điều này phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển tại khu vực. Lãnh đạo hai Đảng, hai nước sẽ duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ tầm cao chính trị và chiến lược, kịp thời chỉ đạo xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển.
Hai bên đánh giá tích cực việc hai nước ký kết “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”; cho rằng việc ký kết Thỏa thuận này có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với việc xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, sẽ cùng nỗ lực thực hiện nghiêm chỉnh Thỏa thuận này.
Căn cứ vào nhận thức chung đã có giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”, hai bên đẩy mạnh đàm phán vấn đề trên biển, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, đồng thời tích cực trao đổi tìm kiếm giải pháp có tính quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển.
Hai bên thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển ở khu vực này. Hai bên tích cực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên biển, thăm dò khai thác dầu khí, phòng chống thiên tai…
Trước khi giải quyết dứt điểm tranh chấp trên biển, hai bên cùng giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông, giữ thái độ bình tĩnh và kiềm chế, không áp dụng hành động làm phức tạp hoá hoặc mở rộng thêm tranh chấp, không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước, xử lý các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để ảnh hưởng tới quan hệ hai Đảng, hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.
6. Phía Việt Nam khẳng định thực hiện nhất quán chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc bày tỏ hoan nghênh lập trường trên của phía Việt Nam.
7. Hai bên khẳng định tiếp tục mở rộng giao lưu và hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao hai nước, tổ chức tốt trao đổi chính trị giữa Bộ Ngoại giao hai nước, tăng cường trao đổi và hợp tác tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+1, ASEAN+3, Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng…, cùng giữ gìn và thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển và phồn vinh của khu vực và thế giới.
8. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chân thành cảm ơn Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc về sự đón tiếp trọng thị, nhiệt tình và hữu nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào sớm sang thăm lại Việt Nam. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào bày tỏ cảm ơn về lời mời.
TTXVN

Những lương y xem nhẹ chiếc phong bì

Trong khi "lót tay" đã trở thành một thủ tục ở nhiều bệnh viện thì vẫn còn những cơ sở y tế mà người thày thuốc ở đó làm việc thực sự bằng cái tâm, dù đời sống của họ còn chật vật. 


Các bác sĩ, y tá Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đang thăm khám cho bệnh nhân nặng. Ảnh: Minh Thùy.
Đưa mẹ vào Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai điều trị vì cụ bị tràn dịch màng phổi, chị Nhan (xã Đồng Tâm, Ninh Giang, Hải Dương) tìm tới đưa phong bì cho bác sĩ điều trị nhưng bị từ chối thẳng thắn.
"Bác ấy bảo, nếu mình có ý tốt thì cứ để khi mẹ khỏi, mang tới tặng giữa phòng, trước mặt mọi người, bác sẽ nhận ngay. Mình thực sự cảm động”, chị Nhan kể. Chị cho biết, hiện mẹ chị nằm trong phòng hồi sức cấp cứu, phải thở máy và được các y bác sĩ đến kiểm tra, chăm sóc tận tình.
Cũng tại Trung tâm chống độc, chị Mai (Đông Triều, Quảng Ninh) đi chăm chồng bị rắn cắn nằm điều trị nửa tháng, nay muốn biếu chút tiền cho bác sĩ, nhưng hỏi những người đã nằm viện từ trước, ai cũng bảo chị không nên, vì sẽ chẳng ai nhận.
"Từ đó đến nay, thấy không ai đưa nên em cũng thôi, với lại em thấy các bác ở đây rất nhiệt tình, dù ngày hay đêm, bất cứ khi nào cần, gọi là có ngay", chị Mai thổ lộ.
Tiến sĩ Phạm Duệ, Giám đốc trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, đội ngũ y bác sĩ ở đây đã thực hiện nghiêm túc với "nói không với phong bì" từ nhiều năm trước, tất nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ khi bệnh nhân bày tỏ sự trân trọng, cảm ơn.
Chỉ tay về phía chiếc bàn họp có đủ cả sữa chua, hoa quả và bánh, tiến sĩ Duệ cho biết, đây là quà của bệnh nhân vừa ra viện. "Đấy, nhiều khi không nhận phong bì cũng hóa gây phiền cho người bệnh vì họ lại phải chạy đi mua những thứ khác để cám ơn”, ông nói.
Ông cho rằng, phong bì có nhiều loại. "Có những người vừa đưa xong là quay ra chửi sau lưng bác sĩ, phong bì ấy ai muốn nhận?". Ông tâm sự có nhiều người nhà bệnh nhân vào phòng riêng của ông rồi nhất định giúi tiền, từ chối không được, có khi phải cáu, quát mới cầm lại, đi ra. Cũng có những y bác sĩ ở trung tâm từ chối phong bì của bệnh nhân mãi không được, phải dẫn vào phòng giám đốc xin ý kiến.
Trìu mến gọi Khoa thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch Mai là "tổ ấm", nhiều bệnh nhân nghèo của khoa này cho biết, họ coi các bác sĩ như người thân và ngược lại.
Điều trị suy thận mãn đã 13 năm, anh Phương (40 tuổi) ở Yên Mỹ, Hưng Yên cho biết, anh gặp các bác sĩ nhiều hơn bố mẹ, người thân vì mỗi tuần phải chạy thận 3 lần, mỗi lần 4 tiếng, và hai bên hiểu hết về nhau.
“Bố mẹ ở quê thì già rồi, mình ngoài lúc chữa bệnh thì chạy xe ôm, nhặt rác kiếm tiền trả viện. Thấy các bác vô cùng nhiệt tình, quá tốt, mình cũng muốn có chút cảm ơn, nhưng lấy đâu ra. Mà nói thật, có đưa tiền thì thể nào cũng bị các bác mắng thêm", anh bộc bạch.
Các bệnh nhân khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch Mai luôn trân trọng trước thái độ làm việc vô tư, nhiệt tình của các bác sĩ. Ảnh: Minh Thùy.
Tiến sĩ Nguyễn Cao Luận, trưởng khoa thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, từ khi thành lập (1972) đến nay, khoa luôn xác định "không để bệnh nhân nghèo chết" và càng không thể lấy thêm tiền của họ.
Phần lớn bệnh nhân của khoa thận nhân tạo là người nghèo, trong khi chi phí chữa bệnh của họ lại cao. Vì thế, bệnh viện có riêng chính sách miễn giảm chi phí cho những trường hợp khó khăn, đồng thời các bác sĩ trong khoa cũng thường xuyên kêu gọi các nhà tài trợ giúp đỡ. Nhiều người bệnh không có tiền nhờ đó mà duy trì cuộc sống được lâu hơn.
"Thật ra, mỗi lần đưa bệnh án cho mình duyệt, hầu như ai cũng kẹp theo một phong bì, một ngày ít cũng 1-3 cái. Mình không lấy, họ vẫn cố đưa, tới lúc mình phải hỏi ‘bác giàu hay nghèo’, rồi bảo họ giữ lấy còn chữa bệnh lâu dài, ăn uống... mới thôi", bác sĩ Luận tâm sự.
Tuy nhiên, nói không với phong bì cũng là một cuộc đấu tranh của người thày thuốc.
"Lương bác sĩ theo ngạch nhà nước mỗi tháng tầm hơn 3 triệu, nếu nhận phong bì của bệnh nhân, chỉ cần 10 người đã có thể được 3 triệu. Một năm có khoảng 2.000 người điều trị tại đây, muốn được đút tiền là có ngay, chỉ cần lơ đi chút, không cho thuốc, tỏ thái độ... Nhưng làm thế là thất đức", tiến sĩ Phạm Duệ chia sẻ.
Ông cho biết, bản thân ông cũng nhiều lần phải chần chừ trước chiếc phong bì khi "con đang thiếu tiền đóng học, mình thì thỉnh thoảng lại được hỏi "Sao mày cứ giả nghèo giả khổ" vì ròng rã mấy năm trên chiếc cup 81 cũ, rồi bố, mẹ, vợ con chịu khổ. Nhưng lương tâm và sự tự ái của người thày thuốc vẫn thắng.
Là một đơn vị nhận được rất nhiều ghi nhận tích cực của bệnh nhân, các bác sĩ Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới Quốc gia cũng phải vượt qua nhiều khó khăn trong cuộc sống đời thường để vững tâm làm nhiệm vụ. Nhiều người, sau khi từ chối những chiếc phong bì của bệnh nhân, phải tìm nhiều cách khác mưu sinh, trong lúc đồng lương không đảm bảo cuộc sống.
Bác sĩ Vũ Đình Phú, phó khoa Cấp cứu tích cực, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới Quốc gia. Ảnh: Minh Thùy.
Theo thạc sĩ Vũ Đình Phú, phó khoa Cấp cứu tích cực, làm trong môi trường cấp cứu không thể gây nhũng nhiễu cho bệnh nhân, không ai có thể chần chừ lưỡng lự khi thăm khám cho những người đang mấp mé bên bờ vực giữa sự sống và cái chết, có khi, chỉ cần chậm vài phút là mất đi một sinh mạng.
Anh Phú cho biết, tại nơi anh làm việc, hầu như không ai từng nhận phong bì của bệnh nhân, có chăng là một vài tấm lòng cảm ơn khi họ đã được cứu sống. "Cái lớn nhất chúng mình nhận được chính là những thành quả của lao động, đó là sinh mạng, sức khỏe của người bệnh", bác sĩ nói.
Bản thân anh, sau 14 năm ra trường, vẫn chỉ có mức lương hệ số 3,67 với thu nhập eo hẹp. "Cũng may hai vợ chồng mình đều đi làm, lại chỉ có một con nên đủ sống, chỉ không có tích lũy thôi. Nhà thì được hưởng lại từ cha ông nên cũng đỡ một khoản lo", anh Phú chia sẻ.
Anh cho biết, ngoài khám, chữa cho bệnh nhân, cũng như các bác sĩ trong khoa, anh phải tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học, rồi đi tuyến dưới theo đề án tăng cường y tế cơ sở của Bộ Y tế...
"Ai đi làm cũng mong có thu nhập đảm bảo cuộc sống. Nhưng trong điều kiện nhà nước và hệ thống của mình bây giờ, phải biết chấp nhận. Đồng lương của mình ít nhưng vẫn nhiều hơn người nông dân, họ sống được, mình cũng sống được, liệu cơm mà gắp mắm thôi”, người bác sĩ gày gò thổ lộ.
Anh cho biết, nhiều đồng nghiệp của mình phải đi làm thêm.
Chẳng hạn, bác sĩ Đinh Công Tiến, Khoa Cấp cứu tích cực, đã tốt nghiệp đại học 12 năm và gắn bó với khoa hơn 4 năm. Mỗi tháng anh lĩnh hơn 2 triệu từ lương nhà nước, cộng thêm hơn một triệu phụ cấp của bệnh viện và khoảng 200 nghìn tiền trực 4 đêm một tháng, tổng cộng thu nhập khoảng trên 4 triệu đồng. Để đảm bảo cuộc sống gia đình, cuối tuần anh lại đi làm thêm (siêu âm) cho một phòng khám tư trên đường Nguyễn Khuyến, và kiếm được 400.000 đồng mỗi ngày.
“Vất vả lắm chứ, nhưng lòng mình thanh thản, vì đó là đồng tiền do mình lao động chân chính mà ra”, bác sĩ Tiến chia sẻ.
Theo tiến sĩ Nguyễn Cao Luận, để chấm dứt hẳn nạn phong bì, người đầu tiên cần nói không là bệnh nhân: “Nếu mọi người đều kiên quyết không phong bì, những anh nhũng nhiễu sẽ lòi ra và bị xử lý nặng”. Còn các y bác sĩ cũng cần đảm bảo đời sống để chuyên tâm với công việc.
Tại khoa thận nhân tạo, để cải thiện thu nhập cho nhân viên, khoa đã thực hiện theo chủ trương khoán, ký quỹ của bệnh viện, từ đó lấy thu bù chi, đồng thời tiết kiệm, chống thất thoát, mở ra các dịch vụ tăng nguồn thu, cải tiến kỹ thuật...
Tương tự, tại Trung tâm chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, tiến sĩ Phạm Duệ cho biết, để đảm bảo đời sống nhân viên, ngoài những cách trên, trung tâm tạo điều kiện cho các bác sĩ trong khoa làm thêm, tăng thu nhập bằng cách ký hợp đồng khám chữa, tư vấn với các đơn vị khác...
Chia sẻ trên Vnexpress.net, độc giả Đỗ Văn Hùng cho biết, năm 2010, khi đưa mẹ đi mổ thoát vị đĩa đệm cột sống tại Khoa phẫu thuật cột sống - Bệnh viện Việt Đức, anh có đưa phong bì cho các y bác sĩ khi làm các thủ tục... nhưng tuyệt nhiên không ai nhận và mẹ anh vẫn được xếp lịch mổ như những người khác.
Mẹ anh được bác sĩ Nguyễn Văn Thạch (trưởng khoa) mổ và ca mổ đã thành công tốt đẹp. Khi mẹ xuất viện, anh tìm bác sĩ Thạch để cám ơn và gửi một chiếc "phong bì". Bác sĩ Thạch thay mặt thay mặt khoa cám ơn gia đình và gọi một cô hộ lý vào và bảo cô bóc phòng bì, nhận tiền của anh và ghi số tiền vào sổ của khoa.
"Tôi thấy đây là một cách làm các khoa khác, bệnh viện khác nên học tập. Khoa nhận phong bì một cách công khai minh bạch do người nhà bệnh nhân tự nguyện cám ơn sau khi mọi việc đã tốt đẹp để đưa vào quỹ của khoa và sau này chi thưởng, lễ, tết... cho cán bộ nhân viên trong khoa. Hành động này hoàn toàn chính đáng".
Minh Thùy

 Theo VNExpress

11/10/11

Thế và lực của Việt Nam trên biển


Trong bài “Việt Nam trước hình thái chiến tranh mới” với cái suy luận của lão nông chất phác, thấy sao nói vậy về đối tượng tác chiến của HQNDVN là ai. Vấn đề tiếp theo là so sánh thế và lực của hai bên ra sao, nếu như họ tấn công (nôm na so sánh lực lượng mạnh yếu) để từ đó hạ quyết tâm: Xin hàng. Hoặc nếu “Bệ hạ muốn hàng hãy chém đầu thần trước”. Không sợ, dám đánh, có cách đánh và quyết thắng.
Có một điều mà lịch sử luôn lặp đi lặp lại: Đối tượng tác chiến của Việt Nam trong chiến tranh bao giờ cũng hùng mạnh, và Việt Nam cuối cùng… vẫn thắng.
Tại sao đối phương lúc nào cũng có lực lượng hùng mạnh mà lúc nào cũng cứ thua không sớm thì muộn? Vậy điều gì xảy ra ở đây? Câu trả lời: Việt Nam không chỉ đánh giặc bằng “Dũng” mà còn phải đánh bằng “Trí”. Trí dũng song toàn. “Trí” ở đây là nghệ thuật quân sự độc đáo, đánh bằng mưu, kế; thắng bằng thế, thời. Còn dàn quân ra mà nghênh chiến với những lực lượng đó thì như Tướng Giáp từng nói với McNamara … “quân đội VN mà dàn quân ra nghênh chiến với Mỹ thì không chịu nổi 1 tuần”.
Mưu là lừa địch, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở, chỗ ít phòng bị của địch làm cho chúng lúng túng, bị động dẫn đến vỡ trận.
Kế là điều địch theo ý định của ta, giành quyền chủ động, buộc địch phải đánh theo cách ta lựa chọn.
“Thế” trong nghệ thuật quân sự là tình thế, thế nước, thế trận, thế bố trí lực lượng trên địa hình địa lý. Thế lấy lực làm cơ sở, do lực quyết định, nhưng thế lợi, thế hiểm thì biến lực nhỏ thành lớn và ngược lại một lực lớn nhưng ở vào thế bất lợi, mất thế thì bị suy yếu.
Hiện nay Việt Nam ở vào tình thế (bối cảnh trong khu vực và thế giới) rất có lợi, hoàn toàn ngược lại với năm 1979. Thế nước thì ổn định, phát triển. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng CSVN – Tổ chức đầy bản lĩnh, dày dạn kinh nghiệm trong chiến tranh giữ nước. Nói thật cho đến bây giờ và ít ra vài thập niên nữa sẽ không có một tổ chức nào đủ tâm và đủ tầm ngoại trừ Đảng CSVN làm tròn sứ mạng này.
(Nếu muốn xóa sổ cái tổ chức này thì xin hãy khoan, chờ đến lúc nước nhà yên ổn với ông hàng xóm rồi có sức hãy xóa cũng chưa muộn)
Nếu hải chiến xảy ra, đôi bên dứt khoát sẽ phải tác chiến với 5 hình thức sau:
  1. Các đòn tấn công tiêu diệt các căn cứ trên bờ bằng pháo hạm, tên lửa (chủ đạo).
  2. Tìm diệt các loại tàu ngầm.
  3. Tìm diệt các tàu chiến mặt nước.
  4. Tìm diệt các tàu vận tải, cắt đứt tuyến vận tải.
  5. Phòng thủ bờ biển, đảo, bảo vệ các căn cứ quân sự, kinh tế quan trọng và hệ thống thông tin liên lạc.
Với cơ sở lí luận như trên, so sánh thế và lực của Việt Nam trên biển với Trung Quốc trong hoạt động tác chiến thứ nhất ta thấy rõ ràng về lực lượng Trung Quốc vượt trội, họ có nhiều tàu ngầm, tàu chiến to và hiện đại. trên bờ thì có nhiều tên lửa tầm xa, tầm gần. Do đó chỉ cần ấn nút thì loạt đầu cũng đã có hàng ngàn quả tên lửa các loại bay vào lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên cũng không đáng ngại vì mức độ khủng khiếp chưa thấm vào đâu so với Hạm đội 7 và Không lực Mỹ đã từng dội xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Và nếu nói rằng với loạt đầu tiên sẽ làm cho hệ thống phòng thủ của Việt Nam bị tê liệt hoàn toàn thì e quá sớm.
Sĩ quan Hạm đội 7 Mỹ sau khi ấn nút xong thì tay mở rượu Uých ki, tay ôm gái khiêu vũ; Phi công B52 sau khi rải hàng ngàn tấn bom mà thoát lưới lửa hạ cánh xuống Guam là có quyền ôm vợ, bật TV xem chiến sự, thậm chí phóng xe đến sân xem trận bóng bầu dục… vì họ biết Việt Nam chưa đủ khả năng giáng trả đến nước Mỹ. Nhưng sự kiện 2 chiếc pháo đài bay B52 ở căn cứ Utapao-Thái Lan của Mỹ cũng bị đặc công Việt Nam làm tan xác đã nói lên một thông điệp rằng sẵn sàng giáng trả vào sào huyệt của đối phương không phải là ý tưởng quá mới mẻ trong giới quân sự Việt Nam.
Trung Quốc thì khác Mỹ, ấn nút xong thì không thể bật rượu Mao Đài hảo lớ hảo lớ được đâu. Hàng ngàn quả tên lửa bay sang VN thì ít ra cũng có hàng trăm quả tên lửa từ Việt Nam bay sang chỗ họ. Các chính khách, học giả nói trên có biết chắc tên lửa Việt Nam có loại nào có tầm bắn đủ để lao vào phòng ngủ của mình ở Bắc Kinh không? Tuy nhiên 1 trăm hay 1 vạn quả của Việt Nam cũng chẳng là gì với Trung Quốc, cái nguy hiểm và khủng khiếp nó không nằm ở đó mà ở chỗ nó kích nổ các quả bom cực lớn khác, lớn hơn bom nguyên tử, trong nội địa Trung Quốc đang chờ phát nổ. Như vậy nếu chỉ xét việc phóng tên lửa qua nhau thôi tức tên lửa đất đối đất thì Việt Nam vẫn ở trong thế có lợi, thế hiểm. Thế này giống như “điểm tựa” mà Acsimet cần để “bẩy quả đất”. Ngày nay một điều khẳng định chắc chắn là Việt Nam không ít thì nhiều cũng có thứ với tới được Trung Quốc trên đất liền (dĩ nhiên rồi) và cả trên biển.
Trên biển, quả thật nếu dàn trận để hải chiến thì e rằng Việt Nam khó có thể chịu được vài trận bởi tàu chiến của Trung Quốc quá hiện đại. Với công nghệ cao thì không thể có một quả tên lửa, ngư lôi, máy bay nào… từ đâu đến mà không bị diệt. Với tính năng kỹ chiến thuật như vậy thì quả là những chiến hạm bất khả xâm phạm. Nhưng thực tế lại không cho nó “tròn trịa” như vậy. Một phương châm mà giới quân sự Việt Nam luôn nghiên cứu kỹ và hành động là: “Nếu những gì công nghệ không làm được thì chiến thuật làm được”. Việt Nam, công nghệ quân sự không đủ hiện đại, tiên tiến tương xứng để xé toạc lá chắn phòng thủ của những chiến hạm kia thì từ thế trận chiến tranh nhân dân, từ thế địa lý bờ biển, bằng nhiều lối đánh độc đáo (chiến thuật) sẽ thừa sức đánh tiêu diệt chúng. Trong bài “Việt Nam trước hình thái chiến tranh mới” tôi đã từng nêu một trong những lối đánh sở trường của Hải quân VN là cơ động nhanh, bí mật, tập kích bất ngờ với các đòn dồn dập, nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều phương tiện hỏa lực vào một mục tiêu làm cho đối phương lùng túng, rối loạn dễ bị tiêu diệt hoặc bị thiệt hại nặng nề. Nhưng lối đánh này liên quan mật thiết với thế địa lý, thế biển. Thế này cũng như thế trận chiến tranh nhân dân là nguồn gốc, hỗ trợ cho lối đánh làm tăng gấp bội lực, một địch muôn người. Nếu trên đất liền, cha ông ta đã tìm ra được ải Chi Lăng; Rạch Gầm–Xoài Mút; sông Bạch Đằng… thì ngày nay Bộ Tham mưu HQVN cũng không khó khăn gì để thấy những thế đó trên bờ biển… Vài chiếc xuồng phóng tên lửa, phóng lôi tốc độ cao ở đâu đó trên bờ biển, hải đảo; vài chiếc máy bay cũ kỹ từ những sân bay dã chiến (chỉ dùng cất cánh) ở đất liền… là có thể tạo nên một trận tập kích bất ngờ theo ý muốn.
Vậy Trung Quốc có lợi thế gì? Do chủ động gây chiến nên họ có thế bất ngờ, luôn chủ động chọn lựa mục tiêu; lực lượng họ vượt trội nên họ có thế tấn công áp đảo, có khả năng làm đối phương tê liệt hoặc thiệt hại nặng bởi đòn phủ đầu. Tất nhiên những gì mà là lợi thế của Việt Nam thì Trung Quốc sẽ ngược lại, thất thế. Trung Quốc không thể sử dụng lực lượng và lối đánh giống Việt Nam dù muốn. Đặc biệt, Trung Quốc hay nước nào mang quân đi gây chiến cũng vậy, muốn đánh nhanh, chớp nhoáng để thắng nhanh nhưng khi không thể thì bắt buộc phải kéo dài, dằng co thì ngay về chiến lược cũng đã tự mâu thuẫn rồi, do đó lợi thế cũng mất dần vào tay đối phương…
Do trong khuôn khổ một bài viết thì không thể đánh giá tiếp tương quan thế và lực của Việt Nam và Trung Quốc trong các hình thái tác chiến tiếp theo, nếu ai có quan tâm đến đất nước thì tiếp tục. Nhưng chỉ cần đến thế cũng có thể nói: Không sợ, đánh được, có cách đánh và sẽ thắng. Nói như thế không có nghĩa là Hải quân Trung Quốc thế và lực trên biển Đông yếu, Mỹ cũng chưa dám coi thường nữa là Việt Nam. Không tin thì Việt Nam thử đưa Hải quân sang xâm chiếm lãnh hải của Trung Quốc xem. Vấn đề đặt ra ở đây chỉ là nếu Trung Quốc dùng Hải quân xâm chiếm biển của Việt Nam mà thôi. Còn nếu bệ hạ muốn hàng thì thần…dân coi như không viết bài này.
Tuy nhiên chiến tranh, thực chất là sự tranh dành lợi ích. Khi không có hoặc có ít thì không dại gì gây chiến tranh vì chiến tranh không phải trò đùa đâu mấy ông học giả, chính khách ạ. Chết chóc, tang thương lắm. Chắc lẽ các vị con cháu đã định cư sang Úc, Canada, Mỹ nên mới hò hét hiếu chiến, vô tâm, vô cảm, vô đạo đức, vô nhân đạo vậy chứ, đúng không?
Năm 1979 Trung Quốc tấn công Việt Nam để chứng tỏ với Mỹ và phương Tây là Trung Quốc không giống Việt Nam, hãy để Trung Quốc yên ổn làm ăn. Ngày nay mục đích tấn công Việt Nam không rõ ràng, lợi ích kinh tế, chính trị không đủ ảnh hưởng nhiều đến đất nước thì sẽ chẳng có cuộc tấn công nào trong tương lai gần. Hòa bình vẫn là xu hướng chính cho cả 2 dân tộc.

Lê Ngọc Thống

Việt - Đức nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược

Với "Tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam - Đức - đối tác chiến lược vì tương lai", Việt Nam và Đức chính thức nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược. Tuyên bố chung do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Đức Angela Merkel ký sáng nay (11/10) tại Hà Nội.

 Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức, tiến sỹ Angela Merkel thăm chính thức Việt Nam từ ngày 11-12/10. 
 Sau lễ đón được tổ chức trọng thể diễn ra vào sáng nay tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Angela Merkel đã tiến hành hội đàm. Tại cuộc hội đàm, hai Thủ tướng đã trao đổi nhiều vấn đề quan trọng nhằm làm sâu sắc thêm mối quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực.
 Đặc biệt, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Angela Merkel đã quyết định chính thức nâng cấp quan hệ song phương lên tầm cao mới: đối tác chiến lược.
 "Tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam - Đức - đối tác chiến lược vì tương lai" đề cập đến 5 lĩnh vực hợp tác then chốt: hợp tác chính trị chiến lược, thương mại và đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật, hợp tác phát triển và bảo vệ môi trường, hợp tác giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, truyền thống và xã hội.
 Cùng với văn kiện quan trọng trên, Thủ tướng hai nước đã chứng kiến lễ ký kết giữa đại diện bộ, ngành hai bên các văn kiện hợp tác: Hiệp định giữa Chính phủ hai nước về các vấn đề pháp lý đối với khu đất tại số 3 - 5 Lê Văn Hưu, TPHCM (Hiệp định về "Ngồi nhà Đức"), Hiệp định giữa Chính phủ hai nước về hợp tác tài chính năm 2010, Hiệp định giữa Chính phủ hai nước về hợp tác tài chính năm 2010, Ý định thư giữa Bộ tư pháp hai nước về việc tiếp tục chương trình hợp tác pháp luật và tư pháp, Ý định thư hợp tác giữa Tổng cục hậu cần - kỹ thuật, Bộ Công an Việt Nam và Nhà in quốc gia Đức.
 Từ nhiều năm nay, Đức luôn là đối tác hàng đầu của Việt Nam trong Liên minh châu Âu trên nhiều lĩnh vực. Năm ngoái, tổng giá trị trao đổi thương mại hai nước đạt trên 4 tỷ USD, tăng hơn18% so với năm 2009, còn trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu của Việt Nam sang Đức đạt trên 1,7 tỷ USD, tăng 42%. Nhiều tập đoàn hàng đầu của Đức đã cam kết đầu tư lâu dài vào Việt Nam với số vốn khoảng 850 triệu USD. 
 
Bà Angela Merkel sinh ngày 17/7/1954 tại Hamburg, tốt nghiệp chuyên ngành Vật lý tại Đại học tổng hợp Leipzig, (tương đương thạc sỹ) và năm 1986 Bảo vệ Luận án tiến sỹ.

Từ 1978-1990 bà là cán bộ khoa học tại Viện hóa học Vật lý tại Học viện Khoa học; năm 1989 là thành viên của nhóm "Đột phá dân chủ"; năm 1990 Gia nhập Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CDU) và là Người phát ngôn thứ hai trong Chính phủ de Maiziere (Đông Đức); từ năm 1990 Thành viên Quốc hội liên bang (Cộng hòa Liên bang Đức).

Năm 1991-1998 bà là Phó Chủ tịch Đảng CDU; từ năm 1993-2000 là Chủ tịch Đảng CDU ở Bang Mecklenburg - Vorpommern; từ năm 1991-1994 là Bộ trưởng Liên bang phụ trách vấn đề Phụ nữ và Thanh niên; từ năm 1994-1998 là Bộ trưởng Liên bang về Môi trường, Tài nguyên và An ninh nguyên tử; từ năm 1998-2000 là Tổng thư ký Đảng CDU; từ 2000 là Chủ tịch Đảng CDU; từ năm 2002-2005 Chủ tịch Đảng đoàn CDU/CSU trong Quốc hội Liên bang; từ 2005 trở thành Thủ tướng Liên bang.  (Theo TTXVN/VietnamPlus)
Theo VTV, Vietnamnet

Chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

 

Vào hôm nay, 09/10/2011, hai ngày trước khi lên đường qua Ấn Độ, thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước, chủ tịch nước Việt Nam đã dành cho hãng tin Ấn Độ PTI một bài phỏng vấn. Lãnh đạo Việt Nam đã hoan nghênh hợp tác Việt - Ấn trong lãnh vực dầu khí, đồng thời, ông cho biết sẽ tăng cường quan hệ chiến lược và quốc phòng với New Delhi.

Bình luận về những tranh cãi vừa bùng lên liên quan đến việc Ấn Độ thăm dò dầu khi trong hai lô của Việt Nam ở Biển Đông, gần bờ biển miền Trung Việt Nam, nhưng lại bị Trung Quốc phản đối, cho rằng đó là khu vực của họ, chủ tịch Trương Tấn Sang đã lên tiếng bảo vệ hợp tác giữa Hà Nội và New Delhi.
Ông nói : “Thực tế là tất cả các dự án hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác khác, bao gồm tập đoàn Ấn Độ ONGC trong lĩnh vực dầu khí đều nằm trên thềm lục địa, trong vùng đặc quyền kinh tế và thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển”.
Trên cơ sở đó, chủ tịch nước Việt Nam xác định : “Chúng tôi hoan nghênh các công ty nước ngoài đến làm việc với đối tác Việt Nam trong các dự án dầu khí trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và phù hợp với pháp luật Việt Nam”. Ông Sang đồng thời cho biết là Việt Nam cam kết bảo vệ lợi ích hợp pháp của các công ty nước ngoài đã đầu tư trong nước.
Cả Ấn Độ và Việt Nam đều bác bỏ các tuyên bố chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông với lý do là căn cứ theo luật của Liên Hiệp Quốc, các lô mà Ấn Độ khai thác thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ấn Độ cũng đã nói rõ là công ty Nhà nước của họ sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí tại Biển Đông.

 Theo RFI

Thủ tướng Đức sẽ đề cập đến vấn đề nhân quyền khi đến thăm VN



Bà Angela Merkel ngày 10/10 bắt đầu lên đường công du Việt Nam với hy vọng đạt được các thỏa thuận về thương mại và nguyên vật liệu thô với nước chủ nhà.
Tháp tùng Thủ tướng Merkel tới Việt Nam có phái đoàn các doanh nghiệp hàng đầu của Đức hầu tìm kiếm các cơ hội đầu tư và tăng cường mối quan hệ giữa nền kinh tế hàng đầu của Châu Âu với nền kinh tế phát triển nhanh tại Châu Á.
Bà Merkel nhận định Việt Nam là một quốc gia đang trỗi dậy tại Châu Á với nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng trong những năm gần đây và đang dần trở thành một đối thủ cạnh tranh với các nước lớn như Trung Quốc.
Hãng thông tấn AFP ngày 10/10 trích thuật nguồn tin từ giới chức cao cấp trong chính phủ Đức cho biết trong chuyến thăm Việt Nam lần này, nhà lãnh đạo của Đức sẽ thúc đẩy tiến trình hiệp ước tự do mậu dịch giữa Liên hiệp Châu Âu với Việt Nam, thỏa thuận được Đức ủng hộ mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, Thủ tướng Đức cũng nhấn mạnh rằng bà sẽ đề cập đến tình trạng nhân quyền đang xuống dốc của Việt Nam trong chuyến công du này.
Bà Merkel khẳng định hợp tác kinh tế đương nhiên gắn liền với nhân quyền và cho biết khi tới Việt Nam, bà chắc chắn sẽ nêu các thắc mắc về nhân quyền với chính quyền Hà Nội.
Liên hiệp Châu Âu thường xuyên lên án việc Hà Nội vi phạm nhân quyền, ngăn cản quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân và đang kêu gọi Việt Nam phóng thích một công dân của EU, blogger mang song tịch Pháp-Việt Phạm Minh Hoàng. Ông bị tuyên án 3 năm tù hồi tháng 8 về tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ vì những bài viết đăng tải trên mạng internet.
Theo VOA tiếng Việt

Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định tái cơ cấu nền kinh tế

Trong 5 năm tới, Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN thống nhất cần tập trung vào 3 lĩnh vực là tái cấu trúc đầu tư, cơ cấu lại thị trường tài chính và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước.
Ngày 10/10, hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương Đảng CSVN khóa 11 đã bế mạc sau 4 ngày làm việc khẩn trương.
Phát biểu bế mạc, ông Nguyễn Phú Trọng khẳng định tình hình đất nước hiện nay và dự báo sắp tới còn nhiều khó khăn, diễn biến phức tạp. Tổng bí thư yêu cầu ngay sau hội nghị, Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội cần tiếp thu ý kiến chỉ đạo của trung ương, hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Tổng bí thư đã khái quát 5 kết quả chủ yếu, nổi bật của hội nghị, trong đó chỉ rõ với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, xem xét các vấn đề một cách khách quan, khoa học, hội nghị đã thống nhất đánh giá tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới.
Ban chấp hành trung ương đã ghi nhận một số kết quả bước đầu quan trọng, tốc độ tăng GDP 9 tháng của năm 2011 đạt 5,76%; cả năm ước đạt 5,8-6%. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu quan trọng chưa hoàn thành, nhất là mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; lạm phát vẫn ở mức cao, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; thị trường tài chính, thị trường bất động sản giảm sút, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Các đại biểu đã nhất trí về định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh.
Việc thực hiện các chủ trương của đại hội 11 về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, những người thuộc diện chính sách xã hội, lao động ở các đô thị, khu công nghiệp, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Tai nạn và ùn tắc giao thông chưa giảm, còn xảy ra nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng; khiếu kiện đông người, đình công xảy ra ở nhiều nơi; số vụ tội phạm, tệ nạn xã hội gia tăng, gây lo lắng, bức xúc trong nhân dân.

Hội nghị đã chỉ rõ nguyên nhân của tình hình trên là do tác động của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; đồng thời do những yếu kém nội tại nền kinh tế với mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu, chậm được khắc phục. Ngoài ra còn có lý do chủ quan là những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp, các ngành, đặc biệt là trong điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa...
Trong kế hoạch 5 năm tới, Trung ương Đảng CSVN thống nhất cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp do Ban cán sự đảng Chính phủ trình. Nội dung mới được hội nghị xem xét và quyết định là phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Cụ thể, trong 5 năm tới, cần tập trung vào ba lĩnh vực quan trọng nhất là tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
Hội nghị đã cho ý kiến hoàn chỉnh và quyết định ban hành 3 văn bản quan trọng về thi hành Điều lệ Đảng nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
(Theo TTXVN)