5/10/11

Tàu pháo Việt Nam bắn thử đạn thật


Cuối tháng 9/2011, tàu pháo TT400TP chính thức được nghiệm thu thành công tại cầu cảng của Công ty đóng tàu Hồng Hà (còn gọi là Nhà máy Z173, TP Hải Phòng). Đây là chiếc tàu pháo đầu tiên do VN sản xuất.
Sáng 27/9, đại tá Nguyễn Văn Đắc, chính ủy nhà máy, nhận được cuộc điện thoại: “Báo cáo chính ủy, tất cả hệ thống vũ khí khí tài trên tàu đã thử bắn đúng mục tiêu”.
Đôi mắt người chính ủy long lanh những giọt nước mắt hạnh phúc. Chỉ là dòng thông tin rất ngắn gọn nhưng là phút giây mà biết bao năm tháng qua, cả hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, công nhân của nhà máy chờ đợi.
Đại tá kể: “Các chuyên gia nước ngoài ngạc nhiên nói rằng ở nước họ phải bắn thử mấy lần, rồi về phải chỉnh lại bắn mới đúng mục tiêu. Nhưng tàu do người VN đóng chỉ cần bắn thử một lần đã đạt độ chính xác đến hoàn hảo”.
Bước ngoặt đột phá

Bảy năm trước, khi nhận công tác giám đốc Nhà máy Z173, đại tá Nguyễn Văn Cường luôn trăn trở với câu hỏi: tự đóng tàu chiến trong nước hay mua? Đây là việc rất hệ trọng của quốc gia. Nếu mua thì mua tàu mới hay mua tất cả vật tư rồi chuyển giao công nghệ, để chuyên gia nước ngoài qua hướng dẫn cách đóng tàu? Hoặc là chỉ mua thiết kế sơ bộ, sử dụng nguồn nhân lực sẵn có và các chuyên gia trong nước, cho người đi nước ngoài đào tạo rồi tự đóng?
Hai năm sau, ban lãnh đạo Z173 đề xuất mua thiết kế sơ bộ tàu chiến và thiết kế vũ khí. Nhà máy sẽ phối hợp với Viện Thiết kế của quân đội để thiết kế, thi công công nghệ.
“Nếu mua bản thiết kế và chuyển giao công nghệ thì giá mỗi chiếc tàu lên đến hơn 10 triệu USD! Mua bản vẽ thiết kế sơ bộ chỉ tốn mấy trăm ngàn USD, còn thiết kế công nghệ thì mình chủ động làm. Khi đó, giá thành sản xuất một chiếc tàu sẽ rẻ hơn rất nhiều, chỉ gần 1 triệu USD, tiết kiệm được 90%!” – ông Cường cho biết.
Đại tá Cường nhìn nhận: “Con người là quan trọng nhất. Trước đó, chúng tôi đã đóng mới thành công tàu cảnh sát biển TT400, cũng mua thiết kế sơ bộ của nước ngoài. Vậy tại sao không thể đóng được tàu chiến? Tại sao chúng ta không dám đi con đường mà chưa ai dám nghĩ, dám đi trong khi có rất nhiều người tài như vậy?”.
Tàu pháo TT400TP đang được kỹ sư và công nhân Việt Nam lắp đặt vũ khí. Ảnh: nhà máy Z173 cung cấp
Hàng trăm kỹ sư giỏi nhất của Z173 được đưa đến các học viện, ra nước ngoài tập huấn hơn ba năm để chuẩn bị cho dự án mang tính lịch sử này. Ban lãnh đạo Nhà máy Z173 đã chủ động đàm phán với các đối tác nước ngoài, tự bỏ tiền mua bản thiết kế sơ bộ rồi báo cáo chứng minh cho chủ đầu tư (Quân chủng Hải quân) và Bộ Quốc phòng: Z173 chắc chắn đóng được tàu chiến.
Ngày 22/4/2009, con tàu TT400TP đã được đặt ky (sống chính của tàu). Đại tá Lê Văn Thước, phó giám đốc kỹ thuật, cho biết: “TT400TP được đóng theo phương pháp mới của thế giới là đóng tổng đoạn từng môđun độc lập (trong mỗi môđun được thiết kế và bố trí lắp đặt các thiết bị gần như hoàn chỉnh, sau đó chỉ cần cẩu – đấu – lắp tổng thành các đoạn môđun lại). Vì thế, các trang thiết bị đóng sẵn có thể đưa lên trước, tiến độ nhanh hơn, độ chính xác cao hơn. Nhưng từ bệ khuôn (phương pháp đóng tàu truyền thống) đến môđun là một bước tiến lớn về chuyển đổi công nghệ đóng tàu. Để làm được điều này, phải có con người và công cụ”.
Và không ai khác, chính các kỹ sư Nhà máy Z173 đã thiết kế thành công trên máy vi tính cái nào cần trước, cái nào cần sau… Các cán bộ, kỹ sư của nhà máy cũng phối hợp với chuyên gia ở các viện nghiên cứu trong nước ứng dụng phần mềm tiên tiến để triển khai thiết kế toàn bộ phần công nghệ, thiết kế các hệ thống trong không gian ba chiều và dùng phần mềm để phóng dạng, biến hình…
Theo đại tá Bùi Duy Chính – trưởng phòng kỹ thuật, khâu khó nhất là tự thiết kế chi tiết công nghệ phục vụ thi công phần tàu và phần lắp đặt vũ khí. Ở phần tàu, các kỹ sư phải giải quyết bài toán có nhiều ẩn số: làm sao để sức cản của tàu nhỏ nhất, lượng choán nước ít nhất trong điều kiện công suất của máy không đổi để đạt được vận tốc tối ưu. Để tìm đáp án cho bài toán đầy thách thức này, các kỹ sư của nhà máy đã gần như phải thức trắng nhiều đêm.
Giọt mồ hôi thầm lặng

Đại tá Nguyễn Văn Đắc nói: “Đến nay trình độ kỹ sư, công nhân đã nâng cao vượt bậc. Chúng tôi hi vọng đến chiếc tàu pháo TT400TP thứ ba sẽ có thể chủ động hoàn toàn trong tất cả thiết kế công nghệ đóng tàu”.
Để làm nên điều tự hào ấy, có biết bao câu chuyện bình dị nhưng xúc động về tình yêu lớn với công việc của các kỹ sư, công nhân trong quá trình thi công sản xuất tàu pháo TT400TP. Ông Đắc nhớ mãi hình ảnh một cô thợ hàn mảnh mai và xinh xắn cặm cụi làm việc với ổ bánh mì và chai nước. Nếu bỏ dở sẽ quên và làm bị lỗi vì một giắc cắm có hàng trăm mấu hàn nhỏ li ti.
Tàu pháo TT400TP. Ảnh: nhà máy Z173 cung cấp
Còn thiếu tá Nguyễn Văn Tiếp, quản đốc phân xưởng vũ khí khí tài, từ khi tiếp nhận vũ khí khí tài của tàu TT400TP, ông lo đến không ngủ được, bị hạ đường huyết, phải tiếp nước biển mấy lần. Nhiều đêm 3g, 4g sáng không ngủ được, người kỹ sư lại lấy bản vẽ ra nghiên cứu phương án lắp đặt hệ thống vũ khí khí tài.
“Cậu ấy làm đến quên ngày quên ăn dù có những tháng nhiệt độ dưới hầm tàu kín mít tới 37-38oC” – ông Đắc kể. Thiếu tá Tiếp nói rất bình dị: “Với chúng tôi, TT400TP không chỉ là công việc mà là niềm tự hào lớn và trách nhiệm lớn với đất nước mình”.
Và kết quả của những nỗ lực thầm lặng mà lớn lao ấy: tháng 8-2011, chiếc tàu pháo TT400TP đầu tiên “bằng xương bằng thịt” xuất hiện trong niềm xúc động của hàng ngàn cán bộ, kỹ sư, công nhân Nhà máy Z173. 
Vài số liệu về tàu pháo TT400TP
TT400TP là lớp tàu pháo có vũ khí điều khiển tự động hoạt động trên biển với bốn nhiệm vụ: tiêu diệt tất cả tàu chiến đổ bộ và tàu hộ tống của địch; bảo vệ căn cứ các đội tàu đổ bộ và đội tàu hộ tống ở vùng hoạt động của các lực lượng và tàu phục vụ các lực lượng rà quét mìn; bảo vệ tàu dân sự trên biển và trinh sát chiến thuật cảnh giới mặt nước.
Chiều dài dài nhất 54,16m, chiều rộng rộng nhất 9,16m, tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ. Tàu hoạt động liên tục trên biển 30 ngày đêm, có khả năng tác chiến trong điều kiện gió cấp 9, 10 và sóng cấp 8, tầm hoạt động 2.500 hải lý.

Đại tá Cao Hòa Bình (chủ nhiệm Cục Kỹ thuật hải quân): Tăng sức mạnh chiến đấu cho hải quân Việt Nam
Tàu pháo TT400TP được trang bị các thiết bị hiện đại có độ tích hợp cao, nhiều tính năng nổi trội hơn so với cùng lớp tàu 400 tấn (như điều khiển máy chính máy phụ, hệ thống báo cháy, tự động dập cháy, hệ thống điều khiển vũ khí tự động, ổn định). Thông thường để sản xuất một lớp tàu, người ta thiết kế sơ bộ, sản xuất mẫu thử, rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh thiết kế, sau đó mới sản xuất. Với tàu TT400TP, chúng ta vừa chuyển giao thiết kế vừa huấn luyện đào tạo đóng tàu, vừa giám sát thiết kế và thi công.
Nhưng kết quả đã được hội đồng nghiệm thu các cấp đánh giá rất cao. Về kỹ – mỹ thuật của tàu pháo TT400TP đều đảm bảo chất lượng, các thông số kỹ thuật đúng theo thiết kế. TT400TP sẽ góp phần làm tăng sức mạnh chiến đấu cho hải quân VN và quan trọng nhất là VN đã từng bước làm chủ được công nghệ đóng tàu chiến, tạo thế chủ động trong việc đảm bảo kỹ thuật, đảm bảo trang bị, phương tiện, vũ khí phục vụ nhiệm vụ quốc phòng an ninh, bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển.

Nga, Trung Quốc phủ quyết nghị quyết Liên hợp quốc về Syria


Nga và Trung Quốc – hai nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, vừa phủ quyết nghị quyết cảnh báo sẽ hành động nếu lãnh đạo Syria không chấm dứt các cuộc trấn áp với những người biểu tình. Nghị quyết này do các quốc gia châu Âu soạn thảo.
15 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã tham gia cuộc bỏ phiếu, 9 quốc gia ủng hộ nghị quyết này, nhưng nghị quyết vẫn không được thông qua do Nga và Trung Quốc phản đối. Nam Phi, Ấn Độ, Brazil và Libăng bỏ phiếu trắng .
Đây là lần đầu tiên Nga và Trung Quốc bỏ phiếu phủ quyết kể từ khi hai nước này phản đối các biện pháp trừng phạt đối với Tổng thống Zinbabue Robert Mugabe hồi tháng 7/2008.
Dự thảo do Pháp phối hợp với Anh, Đức và Bồ Đào Nha soạn thảo, yêu cầu áp dụng những biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn đối với Syria so với bản dự thảo trước đó, nếu nước này không đáp ứng yêu cầu của cộng đồng quốc tế là dừng ngay việc trấn áp người biểu tình.
Nga coi dự thảo nghị quyết mới của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lên án vụ đàn áp ở Syria là “không thể chấp nhận được”, cho dù đã có những thay đổi trong dự thảo về việc xóa bỏ sự liên hệ trực tiếp với các lệnh trừng phạt.
Tại phiên họp trước đó về dự thảo nghị quyết với Syria, 4 quốc gia châu Âu gồm Đức, Pháp, Anh và Bồ Đào Nha đã xóa bỏ từ “biện pháp trừng phạt” khỏi văn kiện đó.
Có vẻ là các nước phương Tây không muốn để xung đột này trong thế giới Arập ngày càng leo thang.
Hiện nay, các quốc gia phương Tây chưa can thiệp mạnh vào công việc nội bộ của nước này mà tập trung vào các chiến dịch quân sự ở Afghanistan, Iraq và Libya.
Tuy nhiên, các thế lực Hồi giáo cực đoan có quan điểm khác và đang chuẩn bị phát động chiến tranh chống Bashar Assad.Trong khi đó, đã xuất hiện những cảnh báo về nguy cơ ngay sau cuộc nội chiến, Syria sẽ đối phó với sự can thiệp vũ trang của nước ngoài.
Trong khi đó, tại Syria, những cuộc biểu tình vẫn diễn ra tại Dera’a, Deir al-Zor và Al-Qamishli. Người biểu tình xuống đường với biểu ngữ kêu gọi lật đổ chế độ của Tổng thống Bashar Assad.
Họ cũng đòi áp dụng vùng cấm bay trên cả nước. Theo “Hội đồng điều phối cách mạng Syria”, hàng chục ngàn người đã tham gia biểu tình. Vài chục xe tăng và xe bọc thép đã được điều tới Rastan để dập tắt tình trạng bất ổn.

4/10/11

Xây dựng Luật biểu tình: Nên lập tổ chuyên gia soạn thảo liên ngành


TT - Trong lịch sử hai trăm năm qua của Việt Nam, biểu tình thường là nhằm chống chính quyền phong kiến, thực dân, chống chế độ độc tài, phản động, nên trong cán bộ, công chức và cả trong nhân dân thường có tâm lý rằng biểu tình là chỉ nhằm chống đối, thậm chí chống chính quyền.
Cần xây dựng lại nhận thức rằng biểu tình là những hành vi hợp pháp, văn minh, dân chủ nhằm biểu thị thái độ, tình cảm, quan điểm ủng hộ những điều tốt đẹp và có lợi cho con người, cho đất nước, đồng thời phản đối cái ác, cái xấu, những hành vi phạm pháp, có hại.

Ông Trương Trọng Nghĩa - Ảnh: N.Triều

Cần phân biệt rõ việc biểu tình với việc khiếu nại, tố cáo, khởi kiện (theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo, hình sự hay dân sự) mà đối tượng là những cá nhân hay tổ chức có địa chỉ cụ thể.
Do đó người nêu ra phải có những chứng cứ và chịu trách nhiệm về những ý kiến của mình, thậm chí có thể bị phản tố về tội vu khống. Ngoài ra, nếu biểu tình mà cản trở giao thông, gây mất trật tự, cản trở công vụ hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp thì sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Biểu tình là quyền cơ bản của nhân dân mà hiến pháp đã quy định, là nhu cầu của người dân, của xã hội, chứng tỏ xã hội ta đã đạt được một trình độ phát triển mới về dân chủ, dân trí và nhân quyền, nên Quốc hội - là cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra - có trách nhiệm phải ban hành luật ấy.
Tôi hiểu rằng nếu có Luật biểu tình thì một số cơ quan chức năng bảo vệ trị an sẽ có thêm nhiều việc phải làm. Song, Luật biểu tình là một bước tiến về lập pháp, làm cho xã hội ta phát triển một cách dân chủ, công bằng và văn minh hơn như nghị quyết Đảng đề ra.
Sự cần thiết xây dựng một đạo luật mới không xuất phát từ nhu cầu hay nhận thức chủ quan của đại biểu Quốc hội hay năng lực của cơ quan quản lý nhà nước. Chúng ta xây dựng luật là để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, đất nước và quyền lợi của nhân dân, làm cho các quan hệ xã hội diễn ra một cách trật tự, ổn định, văn minh hơn. Cũng đừng quên rằng một đạo luật ngoài việc tạo hành lang và chuẩn mực pháp lý cho những quan hệ xã hội phát triển, còn trang bị những biện pháp và chế tài phù hợp cho cơ quan quản lý nhà nước.
Thông thường các bộ ngành quản lý nhà nước khi được giao soạn thảo dự án luật thì trước tiên muốn thuận lợi cho công tác quản lý của mình. Do đó, chúng ta cần phải có thay đổi căn bản trong quy trình làm luật. Tôi kiến nghị nên thành lập một tổ chuyên gia do Quốc hội lãnh đạo, cấp kinh phí để đảm nhận việc soạn thảo Luật biểu tình, thay vì giao cho một bộ nào đó.
Tổ này phải bao gồm những chuyên gia pháp lý, những nhà khoa học, các nhà quản lý đến từ nhiều lĩnh vực có liên quan như xã hội học, quản lý đô thị, công an, ngoại giao, văn hóa, thông tin - truyền thông...
Và để soạn Luật biểu tình cần phải có những bước chuẩn bị thật kỹ lưỡng, từ chỗ đánh giá thực trạng xã hội, khảo sát ý kiến thực tế, đánh giá tác động cho đến tham khảo kinh nghiệm của quốc tế. Xây dựng Luật biểu tình là một công việc phức tạp, mới mẻ đối với nước ta, nên chúng ta cần phải làm một cách thận trọng và khoa học để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả cao nhất.
LS TRƯƠNG TRỌNG NGHĨA
(đại biểu Quốc hội, phó chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam)
NGUYỄN TRIỀU ghi

40 món ngon Việt Nam lên CNN

Phở, bánh xèo, chả cá và nhiều món ăn Việt Nam vừa được hãng tin CNN giới thiệu đầy hấp dẫn kèm những lời khuyên nên nếm chúng ở đâu.
"Món ăn Việt Nam không nổi tiếng vì độ phức tạp. Rất nhiều những món ngon của Việt Nam có thể được nấu ngay trong quán cóc vỉa hè hay trong nhà hàng sang trọng", trang chuyên về du lịch của CNN cho biết.
"Tuy nhiên, chính sự đơn giản đó, sự khác biệt tinh tế giữa các vùng và những nguyên liệu tươi ngon đã thu hút khách tới những gánh hàng rong".
Đứng đầu trong danh sách này là món phở. "Tại bất cứ thành phố lớn nào, người ta cũng dễ thấy cảnh thực khách xì xụp bên bát phở trong một quán vỉa hè", bài báo có đoạn và thêm rằng bất kỳ danh sách món ăn Việt Nam nào mà thiếu phở thì đều không hoàn chỉnh.
Danh sách này bao gồm đủ các món từ Bắc, Trung, Nam như cao lầu, bún chả, hay bún bò Nam bộ. Những món ăn vặt như nộm hoa chuối, hạt dẻ nóng hay chè cũng góp mặt. Món lẩu bên bờ hồ Trúc Bạch ở Hà Nội cũng được nêu tên.
Kèm ảnh những món ăn ngon, CNN còn đưa ra các địa chỉ ở Việt Nam nơi du khách có thể thưởng thức món đó.

23/9/11

Học giả Đào Duy Anh, khoa học là lẽ sống

PGS Phan Ngọc nhận định: "Đào Duy Anh là học giả lớn nhất Việt Nam thế kỷ XX và có uy tín quốc tế. Ông là người thực sự mở đầu cho nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam theo quan điểm duy vật… Có thể nói không một người nào trong nước hay ngoài nước nghiên cứu văn hóa, xã hội, lịch sử Việt Nam mà lại không đọc những công trình của ông, thậm chí không dựa vào những kiến giải của ông để làm việc".
Đào Duy Anh sinh ngày 24/4/1904 tại Thanh Hóa. Nguyên quán làng Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Tổ tiên họ Đào thế kỉ XV có Anh liệt tướng quân Đào Đình Lãng đã từ Khúc Thủy tìm vào Lam Sơn theo phò Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập Tổ quốc, được phong Thượng tướng khinh xa.
Tiếp nối truyền thống dòng họ, những người em ruột của Đào Duy Anh đều sớm tham gia cách mạng, có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng và chính quyền. Đó là Đào Duy Kỳ, Bí thư Đoàn Thanh niên Dân chủ, Quyền Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, Phó Giám đốc trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), Vụ trưởng Vụ Bảo tồn Bảo tàng (nay là Cục Văn hóa Quần chúng - Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), Giám đốc khoa học Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Đó là Đào Duy Dzếnh (tức Đào Phan), nguyên Bí thư Thành ủy Huế, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ nhiệm Báo Quân du kích (tiền thân của Báo Quân đội nhân dân) kiêm Giám đốc Nhà xuất bản Quân du kích (nay là Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân). Đó là Đào Thị Đính, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam…
Năm 1923, tốt nghiệp Thành chung (cấp 3) tại Trường Quốc học Huế, Đào Duy Anh đã chọn nghề nhà giáo thanh cao ra dạy Trường Tiểu học Đồng Hới (Quảng Bình) chứ không chịu làm công chức cho chính quyền thực dân Pháp. Thời gian đó, phong trào yêu nước sục sôi với tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái (1924), đòi "ân xá" cho Phan Bội Châu (1925) và để tang Phan Chu Trinh (1926) đã cuốn hút tâm trí người trí thức trẻ Đào Duy Anh.
Sau buổi tiếp xúc với chí sĩ Phan Bội Châu tại Đồng Hới, Đào Duy Anh đã từ chức giáo học để "thoát chốn ao tù", dấn thân vào hoạt động chính trị văn hoá "tìm nơi trời cao biển rộng" để có điều kiện "mở mang tri thức". Năm 1926, khi bắt đầu viết báo chữ Pháp và thấy những bài viết của mình nói về thời sự trong nước đều được đăng tải trên tờ báo Echo Annamite của Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, Đào Duy Anh hào hứng làm báo. Ông đã gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng - Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì tại Tourane (Đà Nẵng) và cùng cụ sáng lập Báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút, Đào Duy Anh làm trợ bút. Đồng thời ông tham gia tổ chức yêu nước Tân Việt và trở thành Tổng Bí thư của Đảng này khi mới 24 tuổi.
Đào Duy Anh còn sáng lập Quan Hải tùng thư với sự cộng tác của nhiều trí thức yêu nước như: Võ Liêm Sơn, Trần Đình Nam, Phan Đăng Lưu… để xuất bản những sách phổ cập về tư tưởng khoa học, tư tưởng duy vật lịch sử nhằm mở mang dân trí, ngầm truyền bá tinh thần yêu nước. Đào Duy Anh đã dịch nhiều đầu sách để góp phần đấu tranh chính trị và văn hóa lúc bấy giờ. Với bút danh Vệ Thạch, Đào Duy Anh tự ví mình như con chim Tinh vệ, nguyện suốt đời ngậm đá để lấp biển học mênh mông. Giữa lúc phong trào đang lên, thực dân Pháp bắt Đào Duy Anh bỏ ngục hơn một năm mới được tha. Đây là bước ngoặt lớn trong đời ông. Ra tù, ông thôi hoạt động chính trị để chuyển sang hoạt động văn hóa "là một nhà chính trị hụt" (le polytique man qué) chuyển sang làm văn hóa, Đào Duy Anh đã mang theo nguyên vẹn cả khối tâm huyết về đất nước, cả tinh thần cách mạng sang địa hạt học thuật”.
Lĩnh vực văn hóa khoa học đầu tiên mà Đào Duy Anh quan tâm là Từ điển học. Ông đã hoàn thành và xuất bản hai bộ từ điển lớn "Hán - Việt từ điển" (1932) và "Pháp - Việt từ điển" (1936). Đây là những sách công cụ tra cứu rất cần thiết lúc bấy giờ. Đồng thời là cây cầu nối giữa hai lớp người, xóa bỏ "khoảng cách thế hệ" trước hết về mặt ngôn ngữ, tạo ra tiếng nói chung giữa lớp người già theo Nho học và lớp người trẻ theo Tây học. Năm 1974, cuốn Từ điển Truyện Kiều ra đời. Đây là một cuốn từ điển tác phẩm đầu tiên và có lẽ là duy nhất cho đến hiện nay ở Việt Nam. Không phải là người đầu tiên trong khoa từ điển học Việt Nam nhưng "Đào Duy Anh là một nhà từ điển học đặt cơ sở cho nền Từ điển học hiện đại Việt Nam".
Năm 1938, tác phẩm "Việt Nam văn hoá sử cương" của Đào Duy Anh cùng với "Văn minh An Nam" (la Civilization Annamite, 1944) của Nguyễn Văn Huyên đã đánh dấu và đặt nền tảng hình thành nền văn hóa học Việt Nam hiện đại trên tinh thần Khoa học - Dân tộc. Từ đây, Đào Duy Anh chuyển sang lĩnh vực văn hóa, văn học với nhiều công trình nghiên cứu: Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938), Trung Hoa sử cương (1942), Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943)…
Năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan cho xuất bản cuốn “Nhà vănViệt Nam hiện đại”, trong mắt Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh chỉ chiếm một vị trí rất nhỏ. Nhưng rồi con chim Tinh Vệ họ Đào ấy, theo thời gian, đã ném những hòn đá tảng xuống biển học. Chúng không bị chìm mất tăm mà tạo thành những cột mốc, nhiều cột mốc đầu tiên dẫn đường chỉ lối cho người đời sau nối bước giong buồm ra khơi xa hơn mà không lầm đường lạc hướng.
Lĩnh vực khoa học mà Đào Duy Anh dốc nhiều tâm sức nhất là lịch sử và có sức hấp dẫn đặc biệt là Cổ sử Việt Nam. Đứng trên lập trường Mác-xit, Đào Duy Anh coi lịch sử là phương tiện tốt nhất để thức tỉnh hồn nước, đặc biệt là để nhận diện ở tầm học thuật vấn đề bức thiết khẳng định vị thế của Việt Nam trong nền sử học thế giới và khu vực: "Phải chuyên tâm nghiên cứu lịch sử vì chỉ có hiểu biết đầy đủ lịch sử dân tộc thì mới có thể chắt lọc ra đâu là những yếu tố ngoại lai… Sau khi ra tù (1930), tôi đã quyết định chuyên tâm nghiên cứu sử học".
 Đào Duy Anh đã tự trang bị cho mình một cơ sở kiến thức rộng lớn Đông Tây kim cổ trong nhiều ngành liên quan về Khoa học xã hội như: Triết học, Dân tộc học, Xã hội học… đặc biệt về phương pháp luận sử học và tư liệu lịch sử. Ông đã lặn lội đi vào thư viện Bảo Đại, thư viện của hội Đô thành hiếu cổ ở Huế (Socíe té des Amis du Vieux Hue), Long Cương tàng thư - thư viện tư nhân lớn nhất cả nước của gia đình họ Cao Xuân ở Diễn Châu-Nghệ An, Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d' Extrême Orient - EFEO) và rất nhiều tư gia khác ghi chép, thuê chép và tìm mua được rất nhiều sách quý để tự xây dựng cho riêng mình một tủ sách Hán Nôm phong phú gồm nhiều thư tịch Việt Nam và Trung Quốc .
Từ một người tốt nghiệp Thành chung, với ý chí tự học Đào Duy Anh đã trở thành nhà bách khoa của thế kỷ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Đào Duy Anh lẽ ra có thể giữ một chức vụ lãnh đạo trong Chính phủ nhưng chỉ nhận nhiệm vụ khiêm tốn Ủy viên Ủy ban Kiến thiết Quốc gia theo Sắc lệnh số 78 ngày 31/12/1945, cùng với các nhân sĩ trí thức khác như: Phó bảng Đặng Văn Hướng, kĩ sư Lê Dung, kĩ sư Hoàng Văn Đức, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, kĩ sư Nghiêm Xuân Yêm... Một lần thất bại về chính trị, Vệ Thạch chỉ muốn đi vào hoạt động văn hóa. Đào Duy Anh lần lượt tham gia giảng dạy bộ môn lịch sử tại Ban Văn khoa Đại học Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội (khai giảng ngày 15/11/1945), Ủy viên Ban vận động Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946), Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Trung Bộ, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Liên khu IV (1947), Trưởng ban Sử - Địa thuộc Bộ Giáo dục (1950), giáo sư giảng dạy tại Trường Dự bị Đại học và Sư phạm Cao cấp Liên khu IV (1951-1954), Trường Đại học Sư phạm và Đại học Văn Khoa Hà Nội (1954-1956), Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956-1958).
Thời gian làm chủ nhiệm bộ môn Cổ sử Việt Nam ông đã đào tạo được những thế hệ sử gia đầu tiên của nền đại học Việt Nam độc lập. Nhiều người đã trở thành những nhà giáo, nhà khoa học giữ vai trò đầu ngành trong sự nghiệp phát triển nền sử học Việt Nam hiện đại, trong đó có "tứ trụ" của ngành Sử học ngày nay là GS Hà Văn Tấn (được giao nhiệm vụ chú thích bộ Dư địa chí của Nguyễn Trãi), GS Trần Quốc Vượng (được giao nhiệm vụ dịch và chú thích cuốn Việt sử lược - khuyết danh, đời Trần thế kỉ XV), GS Phan Huy Lê (được giao nhiệm vụ viết cuốn Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ), GS Đinh Xuân Lâm…
Đồng thời với những tư liệu đã tích lũy được từ trước cùng những trăn trở suy nghĩ cộng với điều kiện mới có nhiều thông tin cập nhập và tham khảo các công trình khoa học nước ngoài, Đào Duy Anh đã hoàn chỉnh và cho xuất bản 2 bộ giáo trình: Lịch sử Việt Nam (1956) và Cổ sử Việt Nam (1956). Ngay sau đó, ông bổ sung viết lại thành "Lịch sử cổ đại Việt Nam" (1957) gồm 4 tập: Nguồn gốc dân tộc Việt Nam; Vấn đề An Dương Vương và Nhà nước Âu Lạc; Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt; Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến. Tiếp theo là cuốn "Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam" (1957) và viết lại giáo trình: "Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX" (2 tập). Trong 2 năm, Đào Duy Anh đã hoàn thành và công bố dồn dập nhiều công trình khoa học, đã vẩy bút làm mưa gió trên "mặt trận" khoa học lịch sử Việt Nam.
Thôi công tác giảng dạy ở trường đại học, Đào Duy Anh chuyển sang Viện Sử học làm công tác hiệu đính. Con chim Tinh vệ họ Đào tiếp tục nhỏ từng giọt máu để ngậm đá lấp biển học mênh mông. Những năm sau này, theo lời tâm sự, ông chỉ làm được vài cuốn sách "mỏng mỏng": Đất nước Việt Nam qua các đời (1964); Từ điển Truyện Kiều (hoàn thành 1965, xuất bản 1974); chữ Nôm (nguốn gốc, cấu tạo, diễn biến - 1989)… Và chú giải, hiệu đính hàng vạn trang sách trong những bộ sử được dịch ra Tiếng Việt: Lịch triều Hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục, Thánh Tông di thảo, Phủ biên tạp lục, Đại Việt sử kí toàn thư, Nguyễn Trãi toàn tập, Đại Nam nhất thống chí, Binh thư yếu lược - phụ Hổ trướng khu cơ; Khoá hư lục (dịch), Sở từ (dịch), Truyện Hoa Tiên, Truyện Kiều… Kinh Thi (chưa xuất bản), Đạo đức kinh và Học thuyết của Lão Tử (chưa xuất bản).
Những thành công của nhà bách khoa Đào Duy Anh còn có sự góp sức của người vợ hiền đi bên cạnh ông suốt cuộc đời là bà Trần Thị Như Mân. Bà là cháu nội quan Phụ chánh đại thần Trần Tiễn Thành, con gái quan Tuần vũ Trần Tiễn Hối. Cô tiểu thư khuê các lá ngọc cành vàng ấy đã là trợ lí đắc lực trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học và văn hóa của chồng mình. Có thể khẳng định chắc chắn một điều rằng Trần Thị Như Mân là đồng tác giả những tác phẩm của Đào Duy Anh. Bà còn là thân mẫu của hai nhà khoa học GS.VS nông nghiệp Đào Thế Tuấn và nhà sử học Đào Hùng. Trong Hồi kí Nhớ nghĩ chiều hôm, Đào Duy Anh viết: "Nói chung, trong tất cả các tác phẩm của tôi một phần lớn là nhờ có sự giúp đỡ hay cộng tác của vợ tôi…".
Ngày 1/4/1988, con chim Tinh vệ đã ngừng lấp đá biển học. Khi thời gian đã đẽo gọt đến gần cạn kiệt sức lao động, Đào Duy Anh tự nhận thấy cuộc đời "có biết tôi cũng chỉ ở lịch sử dân tộc mà có buộc tội tôi cũng chỉ ở lịch sử dân tộc".
Nhận định về hai công trình "Lịch sử cổ đại Việt Nam" và "Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX" (được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật - đợt 2, năm 2000), PGS Phan Ngọc - người kế tục sự nghiệp khoa học của Đào Duy Anh - nêu rõ: "Đào Duy Anh là học giả lớn nhất Việt Nam thế kỷ XX và có uy tín quốc tế. Ông là người thực sự mở đầu cho nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam theo quan điểm duy vật. Cụm công trình tôi được xét đến chỉ là một bộ phận trong toàn bộ các công trình to lớn và có giá trị lâu dài của nhà học giả lỗi lạc. Có thể nói không một người nào trong nước hay ngoài nước nghiên cứu văn hóa, xã hội, lịch sử Việt Nam mà lại không đọc những công trình của ông, thậm chí không dựa vào những kiến giải của ông để làm việc"